13/6/14

Cuc chiến không cân sc gia hc gi Vit Nam và                Trung Quc
Đoan Trang

Bài viết dưới đây ca tôi, “Cuc chiến không cân sc gia hc gi Vit Nam và Trung Quc”, được đăng ti trên Tun Vit Nam vào ngày 16/3/2009, mt ngày trước cuc hi tho quc gia đu tiên v tranh chp ch quyn trên Bin Đông.


Hơn 5 năm đã trôi qua. “Cuc chiến” vn không cân sc. S xut hin nhng gương mt mi, nhng nghiên cu mi bên phía Vit Nam, vn hoàn toàn là các n lc cá nhân ca nhng người Vit còn quan tâm đến ch quyn đt nước. 5 năm qua, gii truyn thông va viết bài va nghe ngóng, đoán ý lãnh đo, thy “bt đèn xanh” thì dn ti, thy “không n” thì im bt. Dư lun viên vn canh tng din đàn, tng trang FB, blog chính tr, hi h lao vào đnh hướng mi khi thy có ý kiến nào có v bt li cho chính quyn. Thnh thong, li thy mt đng chí cán b cao cp nào đy, kiu như Đi tá-PGS-TS-NGƯT Trn Đăng Thanh, được mi đi “nói chuyn chính tr” ti nhng “Đng y khi, lãnh đo Đng, Tuyên giáo, Công tác chính tr, Qun lý sinh viên, Đoàn, Hi thanh niên các trường Đi hc-Cao đng Hà Ni” v Bin Đông và quan h Vit Nam-Trung Quc, hun th rng “ta” thế này, “bn” thế kia

Đ ri ti hôm nay thì báo chí được bt đèn xanh, phng vn, viết bài, đưa tin rõ náo nhit, được t cáo Trung Quc “lp lun vô lý”, “bt nht”, “ly tht đè người”, “vu cáo” cái l cái chai… Th nào cũng có đng chí cán b nào đó đã và đang chém tay vào không khí mà nói rng “ta làm truyn thông chưa đ mnh cho thế gii biết chính nghĩa ca ta”, ri thì “cn đ ngh đy mnh truyn thông bng tiếng Anh ra cng đng quc tế”, v.v.

Đúng là đi theo đường li ca Đng thì đến con rn cũng phi gãy xương sng.

Trong khi đó, bao nhiêu năm qua, có nhiu hc gi, nhà khoa hc, trong và ngoài nước, có hoc không có chuyên môn liên quan, vn thm lng nghiên cu v Bin Đông, vượt qua nhng khó khăn, cc nhc v điu kin vt cht và tinh thn, vượt qua s dò xét, nghi ng ca các đng chí an ninh ri vic, vượt qua c muôn vàn c chế đi thường. Tt c đu đã lao vào nghiên cu, lng l và âm thm, ch vi mc đích “vì ch quyn ca Vit Nam”, “vì công lý và hòa bình trên Bin Đông”… Không được mt xu tr cp ca Nhà nước (tt nhiên ri), không được hi mt li, không được đếm xa đến trong mi s kin ngoi giao, mi quyết đnh ngoi giao; không nhng thế còn thường xuyên b an ninh hch sách, quy ri.

Hi ai mi đã và đang liên tc li dng lòng yêu nước ca h, ca người dân Vit Nam?

CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC GIỮA HỌC GIẢ VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam. Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự. Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc "chiếm sóng"

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học - tại một số nước, bậc lương và số lần tăng lương của giáo sư tỷ lệ thuận với số bài viết khoa học được đăng ở tạp chí đầu ngành.
Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ. Một nhà khoa học trẻ Việt Nam từng đặt vấn đề: "Giả sử 10-20 năm nữa, có nhà nghiên cứu phương Tây muốn tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với Hoàng Sa - Trường Sa: Cái mà ông ta tìm thấy sẽ là hàng chục bài viết của học giả Trung Quốc trên các tạp chí quốc tế nhằm chứng minh Hoàng Sa - Trường Sa là của họ. Lúc đó, ông ta có muốn khách quan khoa học cũng khó. Tích tiểu thành đại, hàng loạt bài viết như vậy sẽ làm cán cân sức mạnh nghiêng thêm về phía Trung Quốc, gây ảnh hưởng rất bất lợi cho Việt Nam".
Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - chừng 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp, tới mức gần như “lưu hành nội bộ”.

Việt Nam yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về Hoàng Sa - Trường Sa, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)... Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa (Lưu Văn Lợi, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, Nhà xuất bản Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít. Đa số là "tài liệu tham khảo nội bộ" hoặc cũng gần như "lưu hành nội bộ" bởi không được quảng bá và phát hành rộng.

Gần đây, Nhà xuất bản Tri thức bắt đầu tham gia giới thiệu rộng rãi tới công chúng các cuốn sách nghiên cứu về chủ quyền biển, với mục tiêu giới thiệu được khoảng 5 đầu sách/năm. Tuy nhiên, theo ông Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản, khó khăn lớn nhất là nguồn kết quả nghiên cứu của giới học giả Việt Nam còn hạn chế.

Hiện tại, Việt Nam chỉ có ba cơ quan nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thức về lãnh hải và luật biển, là Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo. Đếm số lượng các nhà nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, tính cả người đã mất, thì “vét” trong cả nước được gần một chục người.

Còn Trung Quốc đã có hàng chục cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tranh chấp lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa từ hơn nửa thế kỷ qua. Ít nhất, có thể kể tới trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường đại học Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn, hoặc trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, v.v…

Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học gia Việt Nam càng yếu ớt hơn.
Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, Tiến sĩ Từ Đặng Minh Thu (Đại học Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng. Tuy nhiên, không rõ vì lý do gì mà các công trình như vậy lại chưa được phổ biến chính thức tại Việt Nam

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí. Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.
Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về Hoàng Sa - Trường Sa và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về Hoàng Sa - Trường Sa hay chủ quyền đất nước. Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao. (Các tuyên bố ngoại giao theo thông lệ này lại không kéo theo việc công bố một bằng chứng cụ thể nào, khiến cho người nghe ngay cả khi muốn tham gia vào một nỗ lực chung để xác lập chủ quyền cho Hoàng Sa - Trường Sa cũng bớt phần tự tin).

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước. Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.


6/6/14

Quê Choa: Góp phần tìm hiểu sự thật về giáo sư Nguyễn Lân

Quê Choa: Góp phần tìm hiểu sự thật về giáo sư Nguyễn Lân: Lê Mạnh Chiến lược thuật và khảo chứng NQL: Chuyện cụ Nguyễn Lân cũng mệt quá, thật tình không muốn đăng. Nhưng nghĩ lại nếu cả nể...

30/5/14

Quê Choa: Việt Nam " thuộc Trung Quốc" bao giờ?

Quê Choa: Việt Nam " thuộc Trung Quốc" bao giờ?: Hoàng Tuấn Phổ Theo blog Tuấn Công thư phòng   Ảnh bên :Quỷ môn quan (Chi Lăng) với giặc Tàu xâm lược-“Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn...

29/5/14

 Quyền lực mềm: Trung Quốc đang thua như thế nào?

·                                  
·                                  
Hải Lý
Mao Trạch Đông có nhiều câu nói bất hủ. Một trong những câu nói ấy là “Mọi quyền lực chính trị đều phát sinh từ nòng súng,” khẳng định chủ trương dùng bạo lực để đạt đến mục đích chính trị. Mao chết đi, những người Cộng sản lên nắm quyền vẫn tiếp tục theo đuổi chủ trương này: bắt bớ, đàn áp, thủ tiêu những kẻ không cùng chính kiến với mình. Đỉnh điểm là cuộc tàn sát Thiên An Môn năm 1989 với con số những người biểu tình bị giết hại lên đến hàng ngàn người. Những nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ thấy bạo lực - hay quyền lực cứng - là phương pháp tối ưu để cai trị và giải quyết mọi vấn đề.
Giáo sư Joseph Nye của đại học Harvard thì lại không nghĩ như thế. Ông nhắc đến một khái niệm mới, tên là “quyền lực mềm” (soft power) lần đầu tiên trong cuốn sách “Bound to Lead: The Changing Nature of American Power” xuất bản năm 1990. Hai mươi bốn năm sau, khái niệm này được Joseph Nye hoàn tất trong cuốn sách thứ hai “Soft Power: The Means to Success in World Politics.” Theo ông, để đạt được một mục đích chính trị nào đó thì thay vì dùng vũ lực để đàn áp hoặc tiền bạc để mua chuộc, bạn hãy dùng sự hấp dẫn của chính mình để thu phục lòng người và tìm kiếm sự ủng hộ. Trên bình diện quốc tế, quyền lực mềm của một quốc gia phụ thuộc vào ba yếu tố chính: 1. sức hấp dẫn của văn hóa (bao gồm văn chương, nghệ thuật, giáo dục, thể thao và văn hóa giải trí), 2. lý tưởng chính trị và 3. các chính sách đối ngoại. Khái niệm quyền lực mềm nhanh chóng được nhiều nguyên thủ quốc gia nghiên cứu kỹ lưỡng và không ít người ủng hộ việc dùng quyền lực mềm để nâng cao hình ảnh và vị trí của quốc gia mình trên bàn cờ chính trị thế giới.

Trung Quốc cũng không thể làm ngơ trước tầm quan trọng của quyền lực mềm. Năm 2007 ở đại hội ĐCS lần thứ 17, Hồ Cẩm Đào tuyên bố Trung Quốc cần phải đầu tư nhiều để phát triển quyền lực mềm. Hẳn cũng không khó khăn gì để họ Hồ nhận ra vị thế của Trung Quốc: một quốc gia với con số GDP khổng lồ và chắc chắn sẽ vượt qua Mỹ trong tương lai gần, nhưng rồi danh hiệu nền kinh tế lớn nhất thế giới ấy lại bị làm lu mờ bởi những đàn áp nhân quyền thô bạo, bởi nạn tham nhũng tràn lan hầu như không còn cách nào kiểm soát được, bởi nạn đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng và bởi bao vấn đề liên quan đến môi trường và an sinh xã hội. Các công dân của Trung Quốc tuy mang tiếng là công dân của một nước lớn, nhưng có vẻ họ không nhận được sự đối xử tương xứng. Một ví dụ: theo đánh giá của tổ chức Hentley and Partners năm 2013 về những quốc gia được ưu tiên miễn thị thực visa thì Trung Quốc nằm ở hạng 82, gần chót, chung nhóm với những nước ở vùng châu Phi và Trung Đông như Cameroon, Congo, Jordan và Rwanda. Ở vị thế này, công dân mang hộ chiếu Trung Quốc chỉ được có 44 quốc gia trên thế giới (tổng số 218) miễn thị thực. Đây là một con số vô cùng khiêm tốn nếu so sánh với con số của Anh, Mỹ, Đức, Phần Lan, v.v… Có tổng cộng 173 quốc gia miễn thị thực cho công dân của Phần Lan, Thụy Điển và Anh; với Đan Mạch, Đức, Luxembourg và Mỹ thì con số này là 172; theo sau là Bỉ, Canada, Na Uy, Nhật, Hàn Quốc, v.v…
Khổng lồ, nhưng cô đơn và bị coi thường. Trung Quốc không thể nào hài lòng với vị trí này.
Và như thế, họ bắt đầu đổ tiền vào các dự án phát triển quyền lực mềm để nhằm nâng cao hình ảnh và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới. Hàng tỷ dollars được Trung Quốc đầu tư vào các chương trình giúp đỡ các quốc gia nghèo ở châu Phi/Nam Mỹ và phát triển hàng trăm học viện Khổng Tử ở khắp mọi nơi. Trung Quốc cũng không ngại vung tiền để làm một Thế Vận Hội (mùa hè 2008) vô cùng hoành tráng để cho cả thế giới biết giờ đây họ không còn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu nữa. Cuộc triển lãm thương mại quốc tế năm 2010 tại Thượng Hải được kể là một thành công lớn khi Trung Quốc thu hút được hơn 70 triệu khách tham dự. Họ cũng không tiếc tiền đầu tư vào những kênh truyền hình và radio ở nước ngoài bằng tiếng Anh nhằm tô vẽ một hình ảnh hiện đại và dân chủ về Trung Quốc.
Với bao tâm huyết và tiền của đổ ra, Trung Quốc đã thu về được những gì?
Không nhiều, nếu không muốn nói là rất ít. Theo một cuộc thăm dò của BBC năm 2012, trong khi một số nước ở châu Phi và Nam Mỹ nhìn Trung Quốc với nhiều thiện cảm thì hình ảnh của Trung Quốc tại Bắc Mỹ, châu Âu, Ấn Độ, Nhật và Hàn Quốc lại vô cùng tồi tệ. Người ta vẫn nhìn Trung Quốc như một gã khổng lồ hung hăng, một tên đạo đức giả. Người ta chỉ có sợ và e dè Trung Quốc, chứ không kính trọng. Người ta chỉ công nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế với thái độ lạnh lùng chứ không mến phục. Nếu xem sự đầu tư phát triển quyền lực mềm là một chuyến làm ăn thì Trung Quốc đang chịu lỗ nặng. Trao ra thì rất nhiều nhưng nhận về lại chẳng bao nhiêu.
Tại sao như thế?
Có ba nguyên nhân:
Thứ nhất, quyền lực mềm của một quốc gia chỉ có hiệu quả khi ba yếu tố văn hóa, lý tưởng chính trị và chính sách đối ngoại phối hợp nhịp nhàng với nhau. Một học viện Khổng Tử ở Manila có thể không ngớt rao giảng về những giá trị nhân nghĩa, tương thân tương ái đến người Philippines, nhưng ở ngoài khơi thì Trung Quốc lại không ngớt bắt nạt Philippines trong vấn đề chủ quyền, vậy cái học viện Khổng Tử ấy nói cho ai nghe đây? Thật rõ ràng, văn hóa của Trung Quốc không hề đi chung đường với chính sách đối ngoại của họ. Tương tự như vậy, thành công rực rỡ của cuộc triển lãm thương mại quốc tế năm 2010 tại Thượng Hải nhanh chóng tan thành mây khói khi sau đó ít lâu, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông quốc tế là hình ảnh chiếc ghế trống tại buổi trao giải Nobel Hòa Bình cho nhà tranh đấu dân chủ Liu Xiaobo. Chiếc ghế trống, cỏn con ấy là một hình ảnh vô cùng mạnh mẽ. Nó tố cáo một sự thật trần trụi: tiền Trung Quốc có thừa, nhưng sự tự do và tôn trọng nhân quyền thì không.
Thứ hai, quyền lực mềm của một quốc gia chỉ có hiệu quả khi nó đến từ hai phía: chính quyền và xã hội dân sự. Hãy nhìn ví dụ của Mỹ. Trên bề mặt, quyền lực mềm của Mỹ qua phương diện văn hóa gần như hoàn toàn đến từ xã hội dân sự và các tổ chức tư nhân. Từ giáo dục ở bậc đại học cho đến phim ảnh Hollywood, từ văn chương cho đến nghệ thuật, từ các phát minh khoa học cho đến thung lũng điện tử Silicon Valley, v.v… Nhưng sở dĩ Mỹ có một thành quả văn hóa rực rỡ như ngày hôm nay là do chính quyền Mỹ đã thành công trong việc gầy dựng và bảo vệ một môi trường mà trong đó sự sáng tạo được khuyến khích triệt để, quyền sở hữu các sản phẩm trí tuệ được đảm bảo và quan trọng hơn hết, các quyền căn bản của con người được tôn trọng.
Nhìn về Trung Quốc, có thể thấy quyền lực mềm của quốc gia này chỉ đến từ phía chính quyền, ngay cả mặt văn hóa. Chính sách trù dập những văn nghệ sĩ bất đồng chính kiến, nạn kiểm duyệt phim ảnh nội địa gắt gao, cùng nạn sao chép, ăn cắp các sản phẩm trí tuệ đã gần như bóp chết sức sáng tạo của người dân Trung Quốc. Hãy lấy ví dụ về công nghệ phim ảnh giải trí ở Trung Quốc. Một phóng viên đã từng đưa ra nhận định là hiện nay, có ít nhất 70% phim ảnh Trung Quốc (bao gồm phim điện ảnh và truyền hình) tập trung vào các đề tài võ hiệp (ví dụ như Kim Dung), lịch sử (thời Tam Quốc, Bao Công) và cuộc chiến kháng Nhật. Những vấn đề gai góc của xã hội hiện nay như tham nhũng, cường hào ác bá, v.v… bị liệt vào hàng cấm. Văn hóa đến từ quyền lực mềm của Trung Quốc hiện nay là một thứ văn hóa rất tội nghiệp, vì thứ nhất, nó chỉ dám quanh quẩn ở thời quá khứ; thứ hai, nó gần như không có hiện tại, khi mà hiện tại của nó là một Trung Quốc không ngớt hít khói trong cuộc thi đua về sức sáng tạo với Mỹ và phương Tây.
Thứ ba, quyền lực mềm của một quốc gia chỉ có hiệu quả nếu có sự hợp tác tích cực từ người dân. Đây là một phương diện mà chính quyền Trung Quốc gần như bất lực. Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay khi mà sự đi lại giữa các quốc gia tương đối dễ dàng, hình ảnh về Trung Quốc sẽ trở nên rõ ràng hơn qua những người Trung Quốc đi du lịch hoặc làm việc ở các quốc gia khác. Và những người Trung Quốc này đã để lại những ấn tượng như thế nào? Nhan nhản từ Hồng Kông cho đến Thái Lan, từ Maldives cho đến Pháp cho đến Mỹ, v.v… là những giận dữ về nạn khạc nhổ, nạn xả rác, nạn ồn ào, nạn ăn cắp, nạn phá hoại các di tích lịch sử, nạn khinh thường luật pháp sở tại và thói ỷ ta đây có tiền nên coi trời bằng vung của rất nhiều du khách Trung Quốc. Bảo tàng Louvre ở Paris từng để bảng tiếng Trung cấm khách du lịch không được đi tiểu/đại tiện bất cứ nơi nào mà họ muốn. Tình trạng tồi tệ đến nỗi bộ Du Lịch Trung Quốc phải đăng những quy định để người dân Trung Quốc biết nên hành xử thế nào khi ra nước ngoài.
Có thể nói, hình ảnh về một Trung Quốc giàu có, văn minh, đẹp đẽ mà chính quyền Trung Quốc cố gắng gầy dựng qua những phong trào tuyên truyền tại ngoại quốc đã bị chính tay người dân Trung Quốc phá bỏ không thương tiếc. Một lần nữa, hình ảnh Trung Quốc là một sự thật trần trụi: họ thừa tiền, nhưng vô cùng nghèo về tư cách cùng hiểu biết về thái độ ứng xử trong một xã hội văn minh. Nói đúng hơn, Trung Quốc hiện nguyên hình là một tên trọc phú.
Để kết thúc bài viết, tôi xin kể một câu chuyện nhỏ. Năm 2012 khi đến Đài Loan, tình cờ tôi quen một anh bạn người Áo. Đang tính chuyện đi thăm ngôi làng Hallstatt ở Áo nên tôi hỏi thăm anh này về ngôi làng ấy. Khổ nỗi tiếng Anh của người bạn Áo này khá tệ, nghe tôi hỏi mà cứ ngơ ngác nên cuối cùng bí lối tôi phải đánh vần chữ Hallstatt ra. Nghe xong anh ta thốt lên: “Oh Hallstatt! China? Copy?” (“Oh Hallstatt! Trung Quốc? Hàng nhái?”)
Làng Hallstatt ở Áo chỉ là một trong hàng chục các di tích lịch sử thế giới bị Trung Quốc nhái và xây dựng lại tại đất nước của họ. Nhái trắng trợn, không một lời hỏi han, xin phép. Nhái từ từng viên gạch đến từng hoa văn. Dĩ nhiên là người Áo bực bội, nhưng họ không giận lâu. Với họ, chả có gì phải đáng giận với một ngôi làng Hallstatt ở Trung Quốc khi mà nó chỉ là một cái vỏ không hồn. Nó cạn kiệt về sức sống, về lịch sử, về văn hóa. Nó là một ngôi làng chết, khi nơi đây chẳng có một bóng người ở. Gặp một ngày đẹp trời nào đó, nếu may mắn thì bạn sẽ gặp vài anh da vàng mũi tẹt trong bộ quân phục của… Áo, hoặc một vài bạn trẻ đến chụp hình.
Nhưng tôi cũng phải cám ơn tính ăn cắp ý tưởng vô tội vạ của Trung Quốc, khi nhờ họ mà anh bạn kia mới hiểu tôi muốn nói đến điều gì.


23/5/14

TÌM HIỂU TỪ NGUYÊN: Sài Gòn từng nhìn cuộc xâm chiếm Hoàng Sa thế nào?...

TÌM HIỂU TỪ NGUYÊN: Sài Gòn từng nhìn cuộc xâm chiếm Hoàng Sa thế nào?...: 26.3.2013-18:50 Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu Sài Gòn từng nhìn cuộc xâm chiếm Hoàng Sa thế nào? NVTPHCM- “Tôi đã nghĩ ...

14/5/14

[TED VietSub] Eric Giler trình diễn điện không dây

Quê Choa: Ai thù, ai bạn?

Quê Choa: Ai thù, ai bạn?: Ts Đoàn Xuân Lộc Theo VOA   Những hành động hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trong những ngày qua cho thấy Bắc Kinh sẵn sàng là...

Quê Choa: Suy nghĩ về cuộc biểu tình của công nhân Bình Dươn...

Quê Choa: Suy nghĩ về cuộc biểu tình của công nhân Bình Dươn...: Hà Hiển Theo blog Hà Hiển   Sự kiện bột phát và bất ngờ không chỉ với Nhà nước Các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc vừa xảy ra...