18/3/26

Tết về nhớ.... “Xuân” (1) “ Tôi có chờ đâu, có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?/ Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”. Đây là những câu thơ “ cửa miệng” của thế hệ 6X chúng tôi khi tết đến xuân về mà không may trong người đầy tâm trạng Tình-Tiền. Và đó là 4 câu thơ đầu trong bài thơ Xuân của Chế Lan Viên (CLV), trong tập thơ Điêu Tàn, in năm 1937, lúc ông mới 17 tuổi! Thời ấy, ở Bình Định, ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan và Quách Tấn, tạo thành nhóm “ Bàn thành tứ hữu” với trường phái "Trường Thơ Loạn" làm dậy sóng thi đàn Việt Nam. CLV, tên thật là Phan Ngọc Hoan (1920-1989), nguyên quán Quảng Trị, sống ở Bình Định từ năm lên bảy. Tôi đọc ông từ năm lớp bảy, qua Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến. Lúc đầu, thấy bút danh cứ tưởng ông là người Hời lấy họ Việt vì thấy ông hoài niệm về Chiêm Thành rất đậm sâu! “ Chiêm nương ơi, cười lên đi em hỡi!/ Cho lòng anh quên một phút buồn lo!/ Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi/ Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta? (Đêm tàn). Sau này, tìm hiểu, đọc lại Điêu Tàn, rồi tiếp những bài thơ, văn ông viết trên đất Bắc sau 1945, mới thấy mình bị “ bé cái lầm” về nhà thơ độc đáo này! Nhận xét về ông khi mới xuất hiện, thiết nghĩ, không ai đúng hơn Hoài Thanh/ Nguyễn Đức Nguyên (1909-1982) : “Cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những đau thương vô lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, ai có ngờ ở trong tâm trí một cậu bé mười lăm mười sáu tuổi. Cậu bé ấy đã khiến bao người ngạc nhiên. Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở giữa thế kỷ hai mươi, nó sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật”. Hầu hết, thơ là cảm xúc thăng hoa; ở ông, thơ là trí tuệ thăng hoa, nên đầy tính triết luận, phổ quát và sâu sắc. “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo” (Những sợi tơ lòng). Một người vị thành niên, mà viết những câu thơ siêu thực, tượng trưng như thế. Thử hỏi thế gian được mấy ai? Sau 1945, ông từ bỏ “ Điêu Tàn” đầy hồn ma bóng quỷ- “Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/ Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”; để đến với Cách mạng. Sau khi “ nhận đường” (chữ của Nguyễn Đình Thi); 1954, Chế Lan Viên trình làng tập Gửi Các Anh. Đọc 13 bài thơ trong tập, tôi chẳng thấy thơ đâu cả, thơ viết như văn xuôi có dấu xuống dòng! “Việt Nam đứng trước bao lơn của thế kỷ thứ 20/Liên Xô đứng một bên và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đứng một bên khác” (Chào mừng). Chỉ nghe, ông khóc Staline: “Đồng chí Staline mất rồi/Đồng chí Staline đã mất/Tin dữ truyền đi, nỗi đau xé cắt/Vạt áo nhân dân thấm đầy nước mắt/Dao đâm qua triệu triệu tim người...”(Stalin sống mãi- 3/1953); ông khóc, không bằng ai đó khóc “ Thương cha thương mẹ thương chồng/ Thương mình thương một, thương ông thương mười” và ấn tượng nhất trong tập này là câu “ Bên ni biên giới là nhà/ Bên kia biên giới cũng là quê hương”!( Cho uống thuốc- 6/1954), câu thơ giá trị tương đương 16 chữ vàng! Đến “ Ánh sáng và phù sa” (1960) và “ Hoa ngày thường- Chim báo bão” (1967), vẫn trung thành với mô típ (motif) mỹ học minh hoạ, tụng ca, tuyên truyền nhưng đã bắt đầu xuất hiện cái chất “trí tuệ thăng hoa”, những hình ảnh, biểu tượng mang triết lý sâu sắc hơn người của ông. Trên cánh đồng chữ nghĩa minh hoạ, hô hào ấy, ta nhặt được những câu thơ hay: “ Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!/ Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét/Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng/ Như xuân đến chim rừng lông trở biếc/Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương” (Tiếng hát con tàu); “ Tổ quốc thân yêu như quả tim thầm/Ở giữa lòng ta nào ta có biết/Trong xa cách bỗng à ơi giọng Việt/ Ru lòng tôi qua nghìn dặm quê xuân” ( ý nghĩa mùa xuân); “ Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu/Ta đẻ ra đời, sao khỏi những cơn đau”, “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?/- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất/ Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn”, “ Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời/ Cửa vẫn đóng và Đời im ỉm khoá/“Những pho tượng chùa Tây Phương” không biết cách trả lời/ Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ.../Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi!” ( Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?- 1965);… Thơ cho Tình yêu, có lẽ không được “định hướng” nhiều, nên “chất” CLV ít bị pha loãng, nên ông đã để cho đời nhiều câu thơ tuyệt đỉnh. Nói về hạnh phúc, khó có bài nào vượt qua Tình Ca Ban Mai: “ Em đi, như chiều đi/Gọi chim vườn bay hết/Em về, tựa mai về/ Rừng non xanh lộc biếc/ Em ở, trời trưa ở/ Nắng sáng màu xanh che/Tình em như sao khuya/Rải hạt vàng chi chít/ Sợ gì chim bay đi/Mang bóng chiều bay hết/ Tình ta như lộc biếc/ Gọi ban mai lại về/ Dù nắng trưa không ở/Ta vẫn còn sao khuya/ Hạnh phúc trên đầu ta/Mọc sao vàng chi chít/ Mai, hoa em lại về...(Chùm nhỏ thơ yêu (1962): “Anh cách em như đất liền xa cách bể/ Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em/Em thân thuộc sao thành xa lạ thế/ Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm/Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ/ Một trời sao rực cháy giữa đôi ta/ Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió/ Cho trời sao yên rụng một đêm hoa”. Sau này tình yêu của Hữu Thỉnh trong bài "Thơ viết ở biển" có nét hao hao. Thu về, đổi gió, trời se lạnh; người yêu hay vợ có việc phải đi xa; ngồi cà phê một mình, lấy điện thoại copy: “ Đổi gió mùa thu trời lạnh chăng em?/ Màu xanh khuất mà mây cũng vắng/ Hiu hắt lòng ta như thiếu nắng/ Như căn nhà những tháng không em” (Trời đã lạnh rồi), và gởi cái; thử hỏi trái tim nào không rạo rực (?) Gió mùa đông bắc (năm 1977), ông viết: “ Từ lúc em ra đi, hai lần gió mùa đông bắc thổi qua phòng/ Lần trước lạnh vừa, lần sau lạnh gắt/ Ở đất nước đánh giặc này, ta chỉ sợ gió mùa, không sợ giặc/ Chỉ sợ lòng mình, đâu sợ gió mùa đông.” Câu thơ hay đẹp như pha lê, cứ để yên cho nó lung linh toả sáng, chớ đụng vào- bình với phẩm! Với Mẹ, ông viết: “Xa mẹ mười năm đi khắp nước/Trăm quê chưa dễ thực quê nhà/Sáng nay mới thực về quê nhỉ/ Bóng mẹ già ai giống mẹ ta?”; đọc đến đây, chắc ai cũng nhớ “ Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi” ( ĐTQ). Qua bài Con Cò, ông tặng cho đời một câu “slogan” tình Mẫu tử: “ Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.” Có câu nào nghe ấm lòng và sâu sắc hơn? (Còn tiếp). 13/2/2026. Kính chúc quí vị một năm mới nhiều sức khoẻ và thành công!

25/1/26

 


Cuối đông

Sáng chủ nhật, trời se se lạnh, cái lạnh dùng dằng như muốn níu kéo mùa đông ở lại. Lang thang trên mạng, phát hiện một “Ô cửa mùa đông” của vườn nhà chịTrần Thị Thuỳ Vy không khép, tò mò, nhìn qua; tôi thấy Em đang cầm trên tay mùa đông, lững thững “đi dọc triền nỗi nhớ”, trên dòng sông ký ức trong trong một chiều chỉ có mưa và lạnh. Em đi trên “cung đường mùa đông” lá đổ, “hàng cây xao

26/12/25

 LAN MAN CHUYỆN MÙI                       

Chim quyên ăn trái nhãn lồng/ Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

Câu ca dao này, không ai không biết, nhưng hiểu thì… hơi nhầm tí. Cây nhãn ra trái, như nhãn Hưng Yên nổi tiếng chẳng hạn, để tránh dơi, chim chóc, côn trùng ăn; người ta lấy bao giấy hay cái lồng bằng tre/ nứa, lồng hay bọc lại và gọi là nhãn lồng. Rất nhiều người nghĩ chim Quyên ăn trái nhãn này. Thực ra không phải vậy.

30/8/25

 

 Thuý Vân ơi! Lệ nhỏ quanh phận người.

Tháng trước, có mấy ngày “cởi ngựa xem hoa” bên Tàu, khi di chuyển từ Hàng Châu về lại khách sạn, đoàn có đi qua cây cầu khá dài, bắt qua dòng sông khá rộng, hdv giới thiệu đây là sông Tiền Đường. À! Hoá ra Tiền Đường là có thật, ngày xưa, đọc/ học Kiều, cứ tưởng con sông này do Thanh Tâm Tài Nhân nghĩ ra vì cái tên có “hơi hớm” liêu trai! Google xem: đây là con sông rộng, dài nhất của tỉnh Chiết Giang, do địa hình dòng chảy thế nào đó mà ở cửa sông có “thuỷ triều vảy cá” rất đẹp, độc đáo, hút hồn du khách. Hôm đó, trời về chiều, mặt sông ngầu đục, ngồi trên xe nên chẳng cảm nhận được gì.

27/7/25

RÒ BÀNG QUANG – ĐẠI TRÀNG SIGMOID. THÔNG BÁO 4 TRƯỜNG HỢP
                                                                     Bs Võ Ngọc Thạch
                                                                                                                 (Bệnh viện đa khoa Vĩnh Đức, TP Đà Nẵng) 
 Tóm tắt:
 Rò bàng quang- đại tràng sigmoid là dạng rò bàng quang - đại tràng thường gặp nhất. Nguyên nhân phổ biến là viêm/ thủng túi thừa, kế đến là ung thư đại tràng, bệnh Crohn, bệnh viêm ruột, xạ trị , chấn thương, do tai biến biến chứng nội soi… Lâm sàng, mặc dù có nguồn gốc từ đường tiêu hoá, nhưng triệu chứng tiết niệu lại chiếm ưu thế như: tiểu ra khí, tiểu ra phân, nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần.

23/5/25

 

Đường đến suối vàng.

Cột mốc, nhắc cho chúng ta khoảng cách không còn bao xa nữa, đây là đường một chiều, và trong thâm tâm, ai cũng muốn đi thật chậm. Đoạn cuối này, anh chị sẽ đi một mình, tự lái chiếc xe Nhân Quả do

23/4/25

Hồ Trường- khúc ca bi tráng của người thua cuộc.
 Ở đời, được vua thua giặc, âu cũng lẽ thường tình! Đã là trượng phu, phù cương thường là chuyện đương nhiên. Nhưng, “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, một ngày kia chí lớn không thành, phải luân lạc tha phương, có chi phải nói nhiều! Dù biết vậy, nhưng nơi đất khách quê người, thân phận “một thời oanh liệt nay còn đâu ( ?)”,

8/3/25

 

Viết cho tháng ba.

Hắn nhỏ hơn chị ba tuổi, học đệ thất (lớp sáu), chị học đệ tam (lớp mười) trường nữ trung học tỉnh; nhà hắn cách nhà chị một con mương và một cánh đồng. Chị, con nhà trí thức, ba, làm ở tỉnh đường, không biết chức vụ gì, thi thoảng có xe đưa đón, mẹ, giáo viên tiểu học. Nhà có hai anh em. Anh chị học đệ nhất (lớp 12 bây giờ), ở trọ nhà bác ruột trên tỉnh, lâu lâu mới về.

10/2/25

Có một nỗi buồn mang tên: đàn ông.

 Hôm qua, khi ngang qua hành lang bệnh viện, vô tình nghe được lời hát chế, theo giai điệu bài “Một đời người một rừng cây” của ns Trần Long Ẩn, “ Khi nghĩ về người đà bà, đó là những người hay la/ Khi nghĩ về đàn ông, ai cũng nói về người chồng/ đàn ông như đạn như đồng/ mà đàn ông khô cạn trong lòng/ đàn ông thích bóng hồng…Xinh xắn phải là đàn bà/ nét mặt giữa rừng hương hoa/ Xấu xí là đàn ông, nét mặt như cày ngoài đồng/ Đàn ông đêm ngày kiếm tiền, mà thiếu tiền xin vợ…triền miên…”