27/7/25

RÒ BÀNG QUANG – ĐẠI TRÀNG SIGMOID. THÔNG BÁO 4 TRƯỜNG HỢP
                                                                     Bs Võ Ngọc Thạch
                                                                                                                 (Bệnh viện đa khoa Vĩnh Đức, TP Đà Nẵng) 
 Tóm tắt:
 Rò bàng quang- đại tràng sigmoid là dạng rò bàng quang - đại tràng thường gặp nhất. Nguyên nhân phổ biến là viêm/ thủng túi thừa, kế đến là ung thư đại tràng, bệnh Crohn, bệnh viêm ruột, xạ trị , chấn thương, do tai biến biến chứng nội soi… Lâm sàng, mặc dù có nguồn gốc từ đường tiêu hoá, nhưng triệu chứng tiết niệu lại chiếm ưu thế như: tiểu ra khí, tiểu ra phân, nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần. Bệnh hay gặp ở các nước phát triển, nơi bệnh lý túi thừa đại tràng chiếm tỷ lệ cao. Việt Nam ít gặp. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng; Ctscan và nội soi bàng quang là hai xét nghiệm có giá trị chẩn đoán cao. Điều trị ngoại khoa là lựa chọn tốt nhất trừ phi có chống chỉ định do bệnh đồng mắc hay thể trạng bệnh nhân. Chúng tôi gặp và đã điều trị thành công cho 4 trường hợp. Hai trường hợp được phẫu thuật triệt để một thì với cắt đoạn đại tràng sigmoid nối tận - tận và cắt bán phần bàng quang có lỗ rò. Hai trường hợp còn lại, do tình trạng bệnh nhân không cho phép, nên chỉ làm hậu môn nhân tạo theo phẫu thuật Hartmann.Trong 4 trường hợp trên có một trường hợp viêm thủng túi thừa tạo rò là do Nontuberculous mycobacteria (NTM), vi khuẩn này thường gây bệnh trên những người có suy giảm miễn dịch (HIV/AIDS, sau ghép tạng, hoá trị ung thư…); gây bệnh trên đường tiêu hoá ở một bệnh nhân không có các yếu tố trên là cực kỳ hiếm, Y văn Việt Nam chưa thấy nói đến. Rò Bàng quang đại tràng cần được nghĩ tới trong những trường hợp bị bệnh đại tràng có nhiễm trùng niệu tái phát nhiều lần, để có chỉ định cận lâm sàng phù hợp, tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời tránh bỏ sót. 
Từ khoá: Rò bàng quang đại tràng, Rò bàng quang đại tràng sigmoid, tiểu ra khí, tiểu ra phân.  
------------------------------------------------------ 
VESICO - SIGMOID FISTULA - 4 CASES REPORTED
                                                                                                                                                                                        Vo Ngoc Thach md
                                                                                            (Vinh Đuc General Hospital, Da Nang city) 
Summary:
 Vesico-sigmoid fistula is the most common form of colovesical fistula. The common cause is diverticulitis and perforation of diverticulosis dísease, followed by colon cancer, Crohn's disease, inflammatory bowel disease, radiation therapy, trauma, and complications of endoscopy... Clinically, although originating from the digestive tract, urinary symptoms predominate such as: pneumaturia, fecaluria, and recurrent urinary tract infections. The disease is common in developed countries, where colonic diverticulosis is highly prevalent. It is rare in Viet Nam. Diagnosis is based on clinical examination; CT scan and cystoscopy are two tests with high diagnostic value. Surgical treatment is the best choice unless there are contraindications due to comorbidities or the patient's condition. We have encountered and successfully treated 4 cases. Two cases were treated with radical surgery at one stage with end-to-end sigmoid colon resection and partial cystectomy with fistula. The remaining two cases, due to the patient's condition not allowing, only colostomy was performed according to Hartmann procedure. In the above 4 cases, there was one case of diverticulitis causing fistula caused by Non-tuberculous mycobacteria (NTM), this bacteria often causes disease in people with immunodeficiency (HIV/AIDS, after organ transplantation, cancer chemotherapy...); causing disease in the digestive tract in a patient without the above factors is extremely rare, Vietnamese medical literature has not mentioned it. Colovesical Fistula should be considered in cases of colon disease with recurrent urinary tract infections, to have appropriate paraclinical indications, find the cause and treat promptly to avoid missing. We would like to report a case of NTM causing disease in the digestive tract, possibly the first case encountered in Viet Nam. 
Key words: colovesical fistula, vesico-sigmoid fistula, vesicosigmoidal fistula, pneumaturia, fecaluria. -------------------------------------------------------------------------------------------- 
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
 Rò bàng quang- đại tràng sigmoid là thể thường gặp (chiếm #75- 85%) của rò bàng quang- đại tràng (colovesical fistula =CVF) nói chung[1,7]. Là sự thông thương bất thường giữa bàng quang và đại tràng sigmoid. Đây thường là biến chứng hiếm của viêm túi thừa đại tràng, ung thư đại trực tràng, bệnh viêm ruột, bệnh Crohn, chấn thương, bẩm sinh, ung thư bàng quang, do thầy thuốc gây ra.v.v.[5,6,7,8] Bệnh lý này, được Rufus nói đến vào năm 200 sau Công Nguyên; 1858, Jone mô tả ca đầu tiên; 1888, Harison Cripps, báo cáo tổng kết 63 trường hợp. Nhật Bản tới năm 2.000, tổng kết được 173 ca bàng quang đại tràng sigmoid do viêm túi thừa đại tràng[8]. Ở Việt Nam, vài trường hợp đơn lẻ được thông báo [10]. Tại Bv đk Vĩnh Đức Quảng Nam, trong thời gian từ tháng 08/ 2024 – 05/2025, chúng tôi gặp 4 trường hợp. Nay, giới thiệu để được lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm quí báu của quí Thầy và đồng nghiệp đối với biến chứng ít gặp này.  
 II/ GIỚI THIỆU BỆNH ÁN: 
    BỆNH ÁN 1: Họ tên: Hà Văn M…, nam, sn: 1975. Địa chỉ: Đại Tân, Đại Lộc, Quảng Nam. V/v: 9h57, 24/09/2024. Số lưu trữ: 23331. Lý do: Theo hẹn. Ghi nhận lúc vào: M: 70l/ph, Nhiệt: 37°C, HA: 110/70mmHg, Nhịp thở: 20l/ph, Cân nặng: 70kg, Cao: 165cm. Tiền sử: Viêm đại tràng mạn. Bệnh sử:12/8/2024, bệnh nhân đau bụng, đi khám, được nội soi đại tràng + sinh thiết. Nội soi ghi nhận: Có một polyp đại tràng sigma, viêm sung huyết trực tràng, trĩ nội độ 2. Kết quả sinh thiết: Polyp tuyến tăng sản đại tràng lành tính. 6 ngày sau (18/8), đau hạ vị, tiểu buốt, tiểu ra khí, tiểu ra phân. 15h,19/8, vào cấp cứu được chẩn đoán: nhiễm trùng tiểu /td viêm phúc mạc


khu trú hố chậu trái. Hội chẩn với khoa Ngoại ghi nhận: Hội chứng nhiễm trùng (+), tim phổi: thường, bụng mềm, hố chậu trái ấn đau, phản ứng bụng (-/+), mass: không rõ, gan lách không lớn, trung đại tiện được, thăm trực tràng: tuyến tiền liệt không lớn, đau ít. Bn được chụp Ct bụng, có hình
(Khí trong bàng quang)

ảnh rò bàng quang- đại tràng do viêm vỡ túi thừa đại tràng sigma. Nhập khoa ngoại điều trị. Bệnh nhân được làm
(nội soi bàng quang)

thêm: Chụp bàng quang có thuốc cản quang, không thấy thuốc vào lòng đại tràng; nội soi bàng quang: Có hình ảnh viêm giả bướu và nhiều giả mạc, không thấy rõ đường rò; PSA = 1.9ng/ml; CTM: HC: 5.14×10ˆ12/l, BC: 12.45×10ˆ9/l, TC: 248×10ˆ9/l; Nước tiểu: HC: 10, BC: 75; cấy nước tiểu: âm tính. Các xét nghiệm khác trong giới hạn bình thường. Bệnh nhân được điều trị nội khoa với: nuôi ăn qua đường tĩnh mạch (có uống ít nước lọc), kháng sinh phối hợp: C3 + Quinolon + Nitroimidazol (Cefotaxim + Ciprofloxacin + Metronidazol), thông tiểu lưu. Xét nghiệm nước tiểu sau 6 ngày điều trị, BC niệu âm tính (24/8), BC giảm, CRP giảm, triệu chứng tiết niệu giảm hẳn, bệnh nhân tiếp tục liệu trình đủ 10 ngày. Ra viện: 31/8. Hẹn tái khám. Tái khám lần 1 (10/9/2024), lâm sàng ổn định, xét nghiệm nước tiểu:BC= 25, tiếp tục dùng thuốc theo đơn. Tái khám lần 2 (23/9/2024), triệu chứng nhiễm trùng niệu rõ, bạch cầu niệu = 500. Bệnh nhân được đề nghị và đồng thuận nhập viện 24/9/2024 để điều trị phẫu thuật. 27/9,
(Đại tràng sigmoid viêm dính )

Bn được phẫu thuật một thì: (1) Cắt đoạn đại tràng Sigma nối ngay(nối máy). (2) Cắt đường rò, cắt bán phần bàng quang. Hậu phẫu ổn định, ra viện sau 10 ngày. Kết quả Gpb: Tổ chức viêm mạn tính ở cả 2 mẫu bàng quang và đại tràng.
 


BỆNH ÁN 2: Họ tên: Nguyễn Hữu B…, nam, sn 1951. Đ/c: Thanh Quýt, Điện Thắng trung, Điện Bàn, Quảng nam. V/v: 14h30, 02/10/2024 Số lưu trữ: 2412/2024. Lý do: tự vẫn. Tiền sử: Tăng sinh lành tính tuyến TL. B/s: Cách nhập viện # 7 ngày, Bn đái đục, sau đó buốt, rát. Khám bs tư, uống thuốc ko khỏi, buồn, nhảy cầu tự vẫn. Lúc nhập viện Bn có sốt, được chẩn đoán td viêm phổi và đưa vào ICU. Cận lâm sàng: Công thức máu: HC: 3.25×10ˆ12/l, BC: 17.88×10ˆ9/l, TC: 147×10ˆ9/l. PSA= 31.92 ng/ml. Procalcitonin= 5.38ng/ml. CRP= 126.60ng/ml. Điện giải máu: Na= 130, K= 2.76, Cl= 97mmol/l. Creatinin/máu= 112𝝁mol/l. Nước tiểu: HC=50, BC=25. Cấy máu (-), cấy nước tiểu (-). Siêu âm: Dày thành trái bàng quang, tuyến tiền liệt lớn. MRI: Đa túi thừa đại tràng sigma; viêm túi thừa, thủng tạo áp xe, thông vào bàng quang; theo dõi áp xe tuyến tiền liệt. Chụp Xq phổi: mờ nhẹ vùng đáy phổi trái. Các xét nghiệm khác trong giới hạn bình thường. Bn được chẩn đoán lại: Nhiễm trùng huyết tiêu điểm từ đường tiết niệu/ Rò bàng quang đại tràng sigma + viêm đại tràng mạn + phì đại tuyến tiền liệt theo dõi ung thư. Bn được điều trị tích cực, ổn định. 8/10, chuyển khoa ngoại. Khám: thăm trực tràng: tuyến tiền liệt lớn vừa, ấn đau ít, không có máu dính gante, không sờ được u bướu gì ở trực tràng, các cơ quan khác chưa
(Hình MRI)

phát hiện gì thêm. Nội soi đại tràng ghi nhận có vài polyp, không thấy rõ đường rò ở đại tràng sigmoid (?), nội soi bàng quang: hình
(hình soi BQ)





ảnh rò dịch mủ từ bên ngoài vào rõ, các xét nghiệm tiền phẫu khác trong giới hạn bình thường. Bn được mổ ngày: 11/10/2024 với phương pháp
(Đại tràng sigmoid thủng)

mổ: Cắt đoạn đại tràng sigmoid nối ngay (nối máy) + cắt bán phần bàng quang chứa lỗ rò. Hậu phẫu ổn định. Gpb cho kết quả: viêm thủng túi thừa do Nontuberculous Mycobacteria

(NTM). Bệnh nhân ổn định, ra viện được tiếp tục điều trị với thuốc: Rifampicin 450mg/ ngày + Ethambutol 800mg/ ngày + Clarythromycin 1.000mg/ ngày. 


BỆNH ÁN 3: Họ tên: Đỗ Thị H…, nữ, sinh năm 1934. Địa chỉ: Thanh Hà, Hội An. Vào viện: 16h10, 24/12/2024. Số lưu trữ:31641. Lý do: Tiểu buốt, tiểu nhiều lần, ăn uống kém. Tiền sử: Tăng huyết áp, Viêm đại tràng mạn, suy nhược cơ thể. Bệnh sử: Bệnh nhân đã được chẩn đoán: Viêm đại tràng sigmoid + Túi thừa đại tràng xuống
và đại tràng sigmoid từ 14/12/2023 ( qua nội soi và Ct scan bụng) và Nhiễm trùng niệu do rò bàng quang -đại tràng sigmoid/ Đa túi thừa đại tràng cách đây # 3 tháng (21/9/2024 trên Ctscan) Có chỉ định

phẫu thuật làm hậu môn nhân tạo, nhưng gia đình không đồng thuận, xin điều trị nội khoa. Đây là lần nhập viện thứ 3. Ghi nhận lúc vào: Mạch: 118 l/ph, Nhiệt: 37°C, HA: 150/80 mmHg, Nhịp thở: 20l/ph, Cân nặng: 37kg. Cận lâm sàng: HC: 3.99 × 10ˆ12/L, BC: 16.73 ×10ˆ 9/L, CRP: 85.03 mg/L, Creatinin: 69 µmol/l, Điện giải máu: Na: 125mmol/l, K: 4.22mmol/l, Tổng phân tích nước tiểu: d = 1.010, HC: 300, BC: 500, Protein: 0.3 g/l. Siêu âm: Td ổ áp xe cạnh trực tràng, dày thành đại tràng sigma và trực tràng, lớp cặn lòng bàng quang, các quai ruột chướng hơi. Các xét nghiêm khác trong giới hạn bình thường. Khám:Tim, phổi bình thường, bụng mềm, ấn đau hố chậu trái vừa, phản ứng bụng(-), gan lách không lớn, thăm trực tràng: không thấy bất thường. Sau khi điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ (xét nghiệm trước đó),bệnh tạm ổn định, lần này gia đình đồng ý phẫu thuật. Bệnh nhân được mổ chương trình ngày 27/12/2024. Phương pháp mổ: Làm hậu môn nhân tạo ở đại tràng trái theo phẫu thuật Hartmann + phá ổ áp xe giữa thành đại tràng và bàng quang, nhét mạc nối lớn, đặt dẫn lưu. Sau mổ bệnh nhân tiếp tục được chăm sóc tích cực với truyền đạm, máu, bệnh ổn định, tình trạng chung cải thiện rõ. Tái khám, 2 lần đầu luôn có bạch cầu niệu nhưng không có triệu chứng lâm sàng. Theo dõi từ đó đến nay, bệnh nhân hoàn toàn ổn định. 


BỆNH ÁN 4: Họ tên: Phan Công P…; Sn: 1940. Địa chỉ: Bình Dương,Thăng Bình, Quảng Nam. Vào viện: 15/05/2025, Số lưu trữ: 13338. Lý do: Đau bụng. Tiền sử: Tăng huyết áp, mổ thay khớp háng trái cách 3 tháng, đau đại tràng không rõ. Ghi nhận lúc vào: M:82 l/ph, Nhiệt: 37°C, HA: 90/60 mmHg, Nhịp thở: 20l/ph, Nặng: 50kg. Bệnh sử: Phát bệnh 4 ngày trước lúc nhập viện với đau bụng kèm đi cầu phân sệt nhiều lần, đôi lúc có ít máu; có tự dùng thuốc, không khỏi, xin nhập viện. Hiện tại: Bệnh nhân tỉnh, huyết động ổn, không sốt, van đau âm ỉ vùng hạ vị, đại tiện phân sền sệt, tự tiểu buốt, đau. Khám: tim phổi thường, gan lách không lớn, 2 thận không sờ chạm, bụng mềm, ấn đau hạ vị trái nhiều hơn phải, mass không rõ, thăm trực tràng: không thấy bất thường. Cls: HC: 3.37×10ˆ12/l. BC:9.70×10ˆ9/l. TC: 378×10ˆ9/l. Creatine: 53µmol/l. CRP:108.99 mg/l. Kali: 2.24mmol/l. BC niệu: 500. Gluose, ALT, AST/ máu, ECG, siêu âm tim, Xq phổi trong giới hạn bình thường. Siêu âm: Dày thành bàng quang, dày thành đại tràng sigma, cocard’ sign (+). Ctscan bụng có thuốc: Thủng đại tràng sigma, viêm bàng quang thứ

phát, theo dõi rò bàng quang đại tràng. Bệnh nhân được điều trị theo chẩn đoán Rò bàng quang đại tràng sigmoid với kháng sinh C3+ Nitroimidazol, bù Kali, nâng sức, truyền hồng cầu khối, thông tiểu lưu. 5 ngày sau nhập viện (29/5/2025) được nội soi chẩn đoán: thấy khối viêm gả bướu ở đáy bàng quang kèm rất nhiều giả mạc trắng đục. Bệnh nhân được thống nhất chẩn đoán: Rò bàng quang- Đại tràng sigmoid/ Viêm túi thừa đại tràng, Nhiễm trùng niệu, Tăng huyết áp, Lão suy. Và được mổ làm hậu môn nhân tạo trên dòng theo pt Hartmann ngày 27/5/2025 do không đủ sức khoẻ làm phẫu thuật triệt để. Hậu phẫu ngày thứ 3, xuất hiện viêm phổi, đại tiện ra máu, hạ kali máu; chuyển ICU điều trị tiếp, đến ngày 1/6, người nhà xin chuyển viện Đà Nẵng. Tại Bv Đà Nẵng, bệnh nhân được tiếp tục điều trị nội khoa, ổn định và ra viện sau 1 tuần. 
III/ NHẬN XÉT- BÀN LUẬN: 
  1/ Nguyên nhân: Nguyên nhân thường gặp nhất trong rò bàng quang đại tràng là bệnh túi thừa đại tràng (Diverticular Disease) khá phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Nhật, Hàn quốc…Ở Mỹ, hơn một nửa số người trên 60 tuổi có bệnh túi thừa. Ở châu Á, tỷ lệ mắc thấp hơn # 13-25% và thường gặp ở đại tràng bên phải ( Âu, Mỹ hay gặp bên trái); dưới 50 tuổi, đàn ông bị nhièu hơn, nhưng từ 70 tuổi, phụ nữ chiếm ưu thế[1,2]. Tỷ lệ nam/nữ: 3-4:1[7,8]. Trong bệnh túi thừa đại tràng, túi thừa bị viêm (diverticulitis) chiếm 4-15%, trong số này bị thủng gây rò, áp xe chiếm 12 % [2]. Các nguyên nhân còn lại như Crohn, bệnh viêm ruột (ìnflammatory bowel disease = IBD), ung thư đại trực tràng, xạ trị, chấn thương và tai biến trong nội soi,v.v. Bệnh nhân số 1, phát bệnh sau 6 ngày nội soi cắt polyp ở đại tràng sigmoid; mặc dù, bệnh nhân có bệnh túi thừa đại tràng, viêm, thủng và rò là logic ( hình ảnh trên Ct scan); nhưng, chúng tôi vẫn chưa loại trừ nguyên nhân do tai biến nội soi(?) để rút kinh nghiệm. Viêm túi thừa đại tràng hầu hết là do tạp khuẩn đường ruột, thường nhất là E. Coli. Bệnh nhân số 2, nguyên nhân là Nontuberculosis Mycobacteria (NTM), một loại vi khuẩn sống trong môi trường tự nhiên, chuyên gây bệnh cơ hội trên những cá thể có suy giảm miễn dịch như HIV/AIDS, ghép tạng, hóa trị ung thư v.v. Đây là trường hợp đặc biệt, vô cùng hiếm, mà chúng tôi gặp được. Tra cứu Y văn thế giới (tiếng Anh) chỉ vài trường hợp báo cáo NTM gây bệnh trên đường tiêu hóa[14,15]; ở Việt Nam, có lẽ đây là báo cáo đầu tiên(?). Bn 3 và 4, vì chỉ làm hậu môn nhân tạo, chưa giải quyết triệt để tổn thương, nên nguyên nhân chỉ dựa trên hình ảnh Ct: rò do viêm vỡ túi thừa đại tràng . Về vị trí, cả 4 trường hợp đều gặp ở đại tràng sigmoid, theo Y văn đây là vị trí thường gặp nhất chiếm 75-85%[1,7] 
  2/ Lâm sàng: Cả 4 bệnh nhân của chúng tôi đều có triệu chứng nhiễm trùng tiểu, bệnh nhân 2,3,4 có nguy cơ nhiễm trùng máu từ đường tiết niệu. Bệnh nhân số 1 là điển hình nhất, có tiểu ra khí, tiểu ra phân và nhiễm trùng niệu. Điều này cũng phù hợp với Y văn, các triệu chứng chính bao gồm: Tiểu ra khí (pneumaturia) 50-70%, tiểu ra phân(fecaluria): 40.9-51%, nhiễm trùng tiểu dai dẳng: 46,6% , một số có tiểu máu[5,7]. 
  3/ Chẩn đoán: Trong tam chứng kinh điển: tiểu ra khí, tiểu ra phân, nhiễm trùng tiểu; thì 2 triệu chứng đầu có giá trị chẩn đoán rõ ràng nhất. Cận lâm sàng: nội soi bàng quang và Ct scaner bụng tiểu khung là tiêu chuẩn vàng, có ý nghĩa quyểt định với hình ảnh khối viêm dính giữa đại tràng và bàng quang, túi thừa đại tràng và khí trong bàng quang. Cũng cần phân biệt với: Viêm bàng quang sinh khí, rò niệu đạo trực tràng. Một biomarker được đánh giá cao là CRP, trong một khảo cứu về tình trạng viêm túi thừa, nếu CRP < 50 mg/l: chưa có biến chứng; còn nếu CRP>200 mg/l là đã có biến chứng như áp xe hay thủng [2]. 
  4/ Điều trị:
      Điều trị nội khoa: có một số kết quả nhất định. Theo R. Radwan &cs, một tổng kết 7 năm, có 62 Bn bị CVF trong đó có 53 Bn bị rò do bệnh túi thừa đại tràng; nhóm này có 27 ca (tuổi trung bình 69 (42-90) được điều trị phẫu thuật (59% làm hậu môn tạm); 26 ca già yếu (tuổi trung bình 76 (39-87), có 62% có grades ASA 3 và 4) được điều trị nội khoa. Theo dõi tại thời điểm 1 năm và 3 năm, không thấy khác biệt về tỷ lệ tử vong giữa 2 nhóm, chỉ có 1 bn chết do nhiễm trùng máu từ đường tiết niệu. Nghiên cứu kết luận: nhiều Bn bị CVF do bệnh túi thừa đại tràng có thể điều trị nội khoa an toàn[12].Tuy nhiên, trong một nghiên cứu gồm 90 bệnh nhân bị CVF, 18 người không được phẫu thuật. Theo dõi một năm cho thấy có 7 trường hợp tử vong, và 2 trong số đó là do nhiễm trùng đường tiết niệu tăng dần [5] Bệnh nhân số 1 của chúng tôi, điều trị nội khoa thất bại, là do tình trạng viêm dính đường rò quá nặng, tồn tại ổ mủ, kháng sinh khó thâm nhập, điều này được quan sát thấy khi mổ. Trên bệnh nhân số 2, tình trạng viêm dính ít, bóc tách đại tràng sigmoid khỏi bàng quang khá dễ, trường hợp này, theo chúng tôi, nếu biết trước do NTM thì điều trị nội khoa có thể thành công vì đây là bệnh lành tính [11,12].
      Điều trị ngoại khoa: Quan điểm ngày nay, hầu hết là điều trị ngoại khoa hoặc là phẫu thuật triệt để một thì (Bn số1 và 2) hoặc làm hậu môn nhân tạo trên dòng trong những trường hợp người bệnh có nhiều bệnh đồng mắc không đủ sức chịu một cuộc mổ như bệnh nhân số 3 và 4 của chúng tôi; phẫu thuật nhiều thì thường áp dụng trên những Bn có bệnh nền ác tính hay có áp xe trong ổ bụng[3,4]. Một review trong 37 năm (1982-2019) của Maurizio ZIZZO và cs, có 1.365 BN, trong đó 97.1% là điều trị ngoại khoa, với tỷ lệ tử vong chung từ 0- 63%, tái phát 1.2% [7]. 
     - Điều trị nguyên nhân: Đối với bệnh túi thừa đại tràng có viêm, cắt đoạn đại tràng được khuyến cáo [8,9,10], trường hợp đặc biệt như bệnh nhân số 2, thì điều trị theo guideline [13]sau khi giải quyết xong tình trạng rò. 
     -Tái phát, theo nghiên cứu của Elizabeth và cs, từ 2003- 2010, có 72 Bn đã được phẫu thuật chữa rò, có 11% tái phát, hầu hết gặp trên những Bn có tiền sử xạ trị [3]. 4 Bn của chúng tôi, thời gian quá ngắn nên cần theo dõi tiếp. 
IV/ KẾT LUẬN: 
    - Rò bàng quang đại tràng là một biến chứng ít gặp, ngoài một số nguyên nhân đặc biệt như ung thư đại trực tràng, Crohn, xạ trị,v.v. Phần lớn do viêm thủng túi thừa trong bệnh túi thừa đại tràng. Điều trị ngoại khoa đem lại kết quả tốt, tái phát thấp. Cần chú ý những bệnh nhân có tiền sử viêm đại tràng kèm nhiễm trùng niệu dai dẳng, tái phát nhiều lần để có hướng chẩn đoán tránh bỏ sót.
  - Nontuberculosis Mycobacteria gây bệnh trên đường tiêu hóa là cực hiếm và đã được ghi nhận lần đầu tiên tại Bvđk Vĩnh Đức, tp Đà Nẵng, nay chúng tôi thông báo trên Y văn. 
-------------------------------------------------------------------------------------
 Tham khảo 
1/ Diverticulosis Naren S. Nallapeta; Umer Farooq; Krunal Patel. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK430771/
 2/ Colonic diverticular disease Antonio Tursi 1,†, Carmelo Scarpignato 2,3, Lisa L Strate 4, Angel Lanas 5, Wolfgang Kruis 6, Adi Lahat 7, Silvio Danese 8 https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7486966/ 
3/ Management and outcomes of colovesical fistula repair Elizabeth T Lynn 1, Nalin E Ranasinghe, Kai B Dallas, Celia M Divino https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/22546120/ 
4/ 2018 Jul-Aug;39(4):195-207. Colovesical fistula: review on conservative management, surgical techniques and minimally invasive approaches G Cochetti, M Del Zingaro, A Boni, D Cocca, M Panciarola, Alessandra Tiezzi, G Gaudio, F Balzarini, P Ursi, E Mearini https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30039786/
 5/ Colovesical fistula: review on conservative management, surgical techniques and minimally invasive approaches G. COCHETTI, M. DEL ZINGARO, A. BONI, D. COCCA, M. PANCIAROLA, A. TIEZZI, G. GAUDIO, F. BALZARINI, P. URSI, E. MEARINI. G Chir Vol. 39 - n. 4 - pp. 195-207 July-August 2018
 6/ Int J Surg Case Rep . 2014 May 24;5(8):448–450. doi: 10.1016/j.ijscr.2014.03.019 Colo-vesical fistula: Complete healing without surgical intervention M Khanbhai a, C Hodgson b, K Mahmood b, MC Parker c, M Solkar b,⁎ https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4147576/ 
7/ Minerva Urology and Nephrology 2022 August;74(4):400-8 DOI: 10.23736/S2724-6051.21.04750-9. https://www.minervamedica.it/en/journals/minerva-urology-nephrology/article.php?cod=R19Y2022N04A0400 
8/ J Korean Med Sci. 2003 Jun;18(3):433-6. doi: 10.3346/jkms.2003.18.3.433. Vesico-ileosigmoidal fistula caused by diverticulitis: report of a case and literature review in Japan Hidefumi Nishimori 1, Koichi Hirata, Rika Fukui, Mayumi Sasaki, Takahiro Yasoshima, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/12808335/ 
9/Int J Surg Case Rep 2014 May 24;5(8):448–450. doi: 10.1016/j.ijscr.2014.03.019 Colo-vesical fistula: Complete healing without surgical intervention M Khanbhai a, C Hodgson b, K Mahmood b, MC Parker c, M Solkar b,⁎https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC4147576/ 
10/ Đoàn Phước Vựng , Nguyễn Hữu Trí. Dò đại tràng bàng quang do viêm túi thừa đại tràng xích ma: báo cáo một trường hợp lâm sàng. Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 6, tập 12, tháng 11/2022 
11/ Colovesical fistula – Is a surgical approach always justified? M. H. Solkar, M. J. Forshaw, D. Sankararajah, M. Stewart, M. C. Parker First published: 16 August 2005 https://doi.org/10.1111/j.1463-1318.2005.00863.x 
12/ How safe is it to manage diverticular colovesical fistulation non-operatively? R. Radwan, Z. M. Saeed, J. S. Phull, G. L. Williams, A. C. Carter, B. M. Stephenson First published: 12 September 2012 https://doi.org/10.1111/codi.12025 
13/ Review Clin Med (Lond) 2024 Jan;24(1):100016.doi:10.1016/j.clinme.2024.100016. Epub 2024 Jan24. Extrapulmonary nontuberculous mycobacterial infections: a guide for the general physician Akanksha Mimi Malhotra 1, Mauricio Arias 2, Matthijs Backx 3, Jessica Gadsby 4, Anna Goodman 5, Ysobel Gourlay 6, Heather Milburn 5, Olga Lucia Moncayo-Nieto 7, Deirdre Shimmin 8,… https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/38350409/
 14/ Review Intern Med 2011;50(21):2583-6.doi: 10.2169/internalmedicine.50.6238. Epub 2011 Nov1. A rare case of infectious colitis with ulcers in the cecum caused by Mycobacterium gordonae Tsutomu Mizoshita 1, Satoshi Tanida, Takashi Mizushima, Yoshikazu Hirata, Kenji Murakami, Takaya Shimura, Yoshinori Mori, Hiromi Kataoka, Takeshi Kamiya, Takashi Joh 
15/ Medicine (Baltimore) 2024 Feb 16;103(7):e36954. doi: 10.1097/MD.0000000000036954 Intestinal nontuberculous mycobacteria infection: A case report Yanbin Xu a, Jinfeng Yang a, Lili Cui a, Chengchen Huang b, Chun Wu a,* PMCID: PMC10869084 PMID: 38363897

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét