28/9/14

Trương Nhân Tuấn - Những bài học không bao giờ thuộc


Trương Nhân Tuấn
Chia sẻ bài viết này
Một cách ngoại lệ, ở Việt Nam, người ta luôn tôn thờ những võ tướng, nhất là những võ tướng lập chiến công lừng lẫy, đánh thắng giặc ngoại xâm. Có lẽ do lịch sử, thường xuyên phải lo chống nạn ngoại xâm, những trang sử VN luôn là những trang sử viết bằng máu.

26/9/14

Tám bài học từ phim Mỹ

Một điểm tôi cực thích khi xem những bộ phim dài tập của Mỹ, đó là mọi nhân vật trong phim đều được khắc họa một cách thực tế, nghĩa là không thần tượng hóa nhân vật như các bộ phim khác: Hàn, Thái, Việt…

Nguyễn Hưng Quốc - Văn hóa dân chủ


Nguyễn Hưng Quốc
Chia sẻ bài viết này

\
Một nền dân chủ không phải là tổng số các thiết chế dân chủ. Có những nơi và những lúc có các thiết chế dân chủ; ừ, thì cũng bầu cử, cũng có đối lập, cũng có tam quyền phân lập đàng hoàng nhưng lại vẫn không có dân chủ. Ngoài vấn đề thiết chế, để có dân chủ, người ta cần một yếu tố khác: văn hoá dân chủ.

Nguyễn Trần Sâm - Sự tồi tệ của tâm lý bầy đàn


Nguyễn Trần Sâm
Chia sẻ bài viết này

Tôi chưa được thấy ở đâu một định nghĩa chính xác về tâm lý bầy đàn. Nhưng tôi đoán, cụm từ này có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất là giống như “tâm lý đám đông”, tức là tâm lý chung của một đám người, với những “hiệu ứng” của nó, nhưng nghiêng về kiểu không có suy nghĩ, gần với bầy đàn động vật.
Thứ hai là tâm lý của những cá thể, luôn muốn sống giữa đám đông, sợ những khoảng thời gian đơn độc, và làm gì cũng đều nhìn đám đông mà làm theo, gần như không suy nghĩ, không có quan điểm và sở thích riêng.
Trong bài này, chúng tôi nói về tâm lý bầy đàn theo cách hiểu thứ hai.
Mỗi một con người đều cần đến những người chung quanh: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đoàn thể,… Cần vì nhiều lý do. Thứ nhất là vì có những nhu cầu trong cuộc sống mà có sự phối hợp tập thể thì việc đáp ứng sẽ dễ dàng hơn. Thứ hai, quan trọng hơn, là nhu cầu tình cảm: người thân là chỗ dựa tinh thần cho chúng ta. Và thứ ba là nhu cầu nhận thức: việc trao đổi, bàn bạc, học và dạy lẫn nhau là vô cùng quan trọng đối với việc thu nhận và sàng lọc kiến thức, chắt lọc lấy chân lý.
Tuy nhiên, nhận thức và thế giới nội tâm của một con người chỉ có thể hoàn thiện (theo nghĩa tương đối) nếu người đó có khả năng ở một mình trong những khoảng thời gian khá dài (có thể là nhiều ngày). Việc đó vừa thể hiện năng lực tự giải quyết những vấn đề riêng tư, vừa thực sự cần thiết cho việc suy tư, nghiền ngẫm để đạt tới tri kiến sâu sắc, thứ mà người ta khó có thể nhận được khi ở trong đám đông ồn ào, dù là đám đông tụ tập để thảo luận những vấn đề nhận thức, như hội thảo khoa học chẳng hạn. Nhà khoa học không thể lúc nào cũng ở trong hội thảo; người đó cần có những lúc ngồi một mình để ý nghĩ và trí tưởng tượng phát huy hết tác dụng. Nhà văn khi viết cũng cần ngồi một mình. Đối với một vài tôn giáo, việc “luyện hồn” càng cần đến sự đơn độc, thậm chí là sự cô độc. Có thể nói, nhu cầu và khả năng sống đơn độc là thước đo sự trưởng thành của con người.
Ngược với nhu cầu và khả năng sống đơn độc, khả năng suy ngẫm để chắt lọc chân lý, là tâm lý bầy đàn. Đó là hiện tượng tồi tệ, với nhiều hệ lụy. Ở đây chỉ xin nêu hai hệ lụy của tâm lý bầy đàn, một liên quan đến đời sống xã hội, và một liên quan đến đời sống cá nhân.
Khi trong xã hội có quá ít người không thoát khỏi tâm lý bầy đàn thì xã hội đó sẽ gặp phải rất nhiều vấn đề nhức nhối. Trong xã hội đó, chân lý không tìm được chỗ đứng. Mỗi thành viên trong xã hội đều sẽ trông chờ có người đem “chân lý” đến cho họ. Khi đó, dù là cái gọi là “chân lý” thực ra là “giả lý”, họ cũng sẽ tiếp nhận một cách hào hứng, và tôn sùng cái nhân vật đem “giả lý” đến cho họ như một vĩ nhân, một vị cứu tinh. Rồi một nhóm người ham quyền lực sẽ quàng cái thòng lọng vào cổ họ, kéo họ đi bất cứ đâu mà nhóm người này muốn. Để giữ an toàn, nhóm người này tiếp tục gieo rắc và khuyến khích tâm lý bầy đàn, không cho mọi người tiếp cận chân lý thực sự.
Trong một xã hội như vậy, luân lý, đạo đức sẽ suy đồi. Đạo đức chân chính sẽ bị thế chỗ bởi sự trung thành với những kẻ cầm thòng lọng. Ai dám hé răng nói lên sự thật chẳng những sẽ bị những kẻ cầm thòng lọng thít cổ cho đến chết, mà còn bị đồng loại ghét bỏ. Con người sẽ trở nên dối trá, và coi dối trá là lẽ sống.
Trong cuộc sống cá nhân (và gia đình), tâm lý bầy đàn làm người ta không thể phấn đấu vì những gì thực sự có ích lợi cho bản thân. Những kẻ không giàu, thậm chí rất nghèo, cũng thi nhau vung tiền, kể cả tiền vay mượn, vào những việc lễ lạt, thủ tục vô bổ, để rồi sau đó sống trong nghèo túng và cắn xé lẫn nhau. “Con gà tức nhau tiếng gáy” chính là một biểu hiện của tâm lý bầy đàn. Một biểu hiện khác là “miếng giữa làng bằng sàng xó bếp” – xô xát, tranh cướp nhau chỉ để được một “miếng” không đáng gì, để sau đó sống trong thù hằn, mệt mỏi.
Có những kẻ thấy người khác ở trong tổ chức này nọ có vẻ oai và có “màu”, cũng cố “phấn đấu” để lọt được vào cùng “đội ngũ” với những ông bà oai oách đó, cuối cùng chỉ làm rào chắn để các ông bà đó yên tâm mà “ăn” của thiên hạ. Có kẻ thấy người ta có chức tước, được trọng vọng, cũng cố chạy chọt chỉ để cũng có được tí chức sắc, dù hữu danh vô thực. Có kẻ thấy người ta là giáo sư, tiến sỹ, được xưng tụng rổn rảng tại chốn đông người, cũng cố bỏ tiền để kiếm lấy cái chữ “tiến” hay “thạc” chi đó cho đỡ kém cạnh, mà không biết trước được rằng cái giá phải trả lớn hơn nhiều so với cái thu được, trong khi nhận thức thuần túy cũng chẳng tăng thêm được tí nào.
Về lâu dài, muốn tiến tới một xã hội lành mạnh, còn trước mắt là tìm được sự yên tĩnh trong tâm hồn cho chính mình, con người ta buộc phải thoát khỏi tâm lý bầy đàn. Đã có cái đầu riêng của mình, hãy dùng nó để suy nghĩ!
(Tất nhiên, tôi biết có hàng ngàn người nghĩ giỏi hơn tôi, và vì vậy những lời tôi nói đây là lời tâm sự với những người không ở trong hàng ngàn người đó.)

23/9/14

Đào Dục Tú - Một cố tật của người Việt !

Đào Dục Tú
Chia sẻ bài viết này

Không biết trên thế giới còn có tộc người nào như người Việt, truyền đời nhắc nhở nhau “tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”. Ừ thì cũng là tâm lý thường tình của con người. Trong cuộc sống trần gian muôn mầu đầy những chuyện hên sui, may rủi, thắng thua, được mất, hỉ nộ ái ố này, hỏi người đời mấy ai không thế !
Tốt đẹp thì khoe ra, biết đâu một đồn mười, tô bồi thêm cái tốt cái đẹp cho mình ,chẳng hay sao ?. Còn xấu xa ,kém cỏi ư,ém nhẹm, dấu diếm “như mèo dấu. . .” được chừng nào hay chừng nấy. Ai . . .dở hơi để lộ vết nhọ nồi tinh thần trên mặt làm gì cho miệng thế cười chê !
Thế nhưng (lại nhưng. . .) cái nét tính cách ấy quả là lợi bất cập hại. Nó quá đà đâm chồi nẩy lộc; không phải truyền một đời trong vòng ” mười năm trồng cây” ” trăm năm trồng người” mà là hàng ” nghìn năm truyền thống” !Tâm lý thông thường kia sẽ như hạt đa trung cổ nẩy mầm, người thời a-còng vô tư ngỡ tưởng nó vụt lớn Phù Đổng thành cổ thụ. Xấu che ,tốt khoe thoái hóa biến chất biến tướng trở thành một căn bệnh.
Căn bệnh thích khoe khoang thổi phồng cái không thành có , cái bé thành to, trốn tránh sự thật không vừa ý, chưa vừa lòng mình ,nhất là chưa đẹp lòng mãn ý nhà quan “miệng có gang có thép”. Thời xưa sợ quan phụ mẫu phải dấu sự thật ,thời nay sợ quan thủ trưởng quyền sinh quyền sát càng phải dấu sự thật. Thói thường cá nhân chủ nghĩa vụ lợi ích kỷ, tiểu khí tiểu nhân dối trên lừa dưới, thích hoa hòa hoa sói, lâu đời thành căn bệnh có tên giả dối.
Gần đây, căn bệnh ấy đúng thời tiết chính trị giàn khoan Tầu khựa, tầu đánh cá “lạ” nhiễu động biển đông , dân cầm bút nhà ta tung hê trên mạng xã hội. Người người xem đó như một nét căn cước tinh thần Việt, cần “ phản tỉnh” “phản biện” “tự phê tự phán” để dân tôi cầu tiến trưởng thành , nước tôilớn mạnh !.Bệnh ấy,tùy thế cuộc thịnh suy, có khi hiển lộ, trắng trợn hoành hành , ngồi xổm trên dư luận; có lúc khuất chìm trong tiềm thức từng cá nhân và cả cộng đồng, lâu đời quá thành cố tật-bệnh cũ ,bệnh mãn tính. . . tính hàng nghìn năm, nên khó bắt mạch kê đơn chữa trị ! Hoa Đà tái thế cũng bó tay.com thôi.
Xin nhắc lại chuyện cũ mà không cũ, vì ý nghĩa quá điển hình vượt thời gian của nó . Nước mình có cường thịnh hơn ai, dân mình có sung sướng hớn hở mở mày mở mặt hơn ai, chưa nói chiến tranh giặc dã với trình độ tiểu nông cá thể nghèo nàn lạc hậu “trung cổ kéo dài”, cộng hưởng làm cho dân ta cơ cực nhất nhì thiên hạ.
Ấy thế mà sau bao nhiêu năm bom đạn tơi bời khói lửa, có thời hậu chiến bao cấp thiếu đói triền miên ,khốn khổ khốn nạn là vậy mà các quan văn vẫn cứ tỉnh bơ soạn sách giáo khoa như …làm thơ! Biết bao thế hệ học trò được ấn vào đầu tinh thần “tự sướng”, “nước ta rừng vàng biển bạc”. Chả bù người Nhật .Thiên hạ cuối thế kỷ trước cố công nghiên cứu tìm hiểu, tìm cách lý giải về một nước Nhật thần kỳ, một con rồng con hổ nổi bật, in hình như đắp nổi trên bản đồ địa- kinh tế châu Á; cường thịnh đích thực.
Thế mà người Nhật tư bản giãy chết vẫn đấm ngực thở than dạy học trò rằng nước mình nghèo, nghèo quỹ đất ,nghèo tài nguyên khoáng sản, nghèo nhiên liệu, nguyên liệu; đủ thứ nghèo để . . . con em họ biết thân biết phận ý thức vượt lên số phận. Ừ thì có ai cãi chuyện nước ta rừng vàng biển bạc ! Tự hào về giang sơn gấm vóc tốt quá . Nhưng rừng vàng mà chi, nghe chuyện thật như đùa.
Trên diễn đàn quốc hội cuối thời bao cấp, đầu thời thị trường, có đại biểu ngành lâm nghiệp dân miền núi thì phải, thật thà như đếm khơi khơi nói rằng ta căn bản đã khai thác bừa bãi ,phá xong rừng ! Còn hiện thời ,có mấy bản tin thời sự vắng bóng chuyện rừng đầu nguồn ,rừng phòng hộ bị phá tan hoang ? Biển bạc ư ? Mấy mươi năm sau đất nước thống nhất cùng đi lên CNXH mà ngao ngán thay, không có lấy một hải đoàn đánh bắt cá xa bờ nào cực mạnh, “chuẩn quốc tế” không phải chỉnh để ngư dân Việt vượt trùng khơi , khai thác kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo .
Nhìn cảnh tầu ngư chính ,hải cảnh của ta thấp bé nhẹ cân nghiêng ngả trong luồng nước xối xả của vòi rồng tầu “lạ” to đùng, đã buồn lòng. Trông thấy tầu ngư dân xứ Quảng ván gỗ xập xệ hoặc tầu sắt bé bỏng bị tầu “lạ” húc như trâu mộng húc nghé con ,rồi quây tròn bắt nạt, uy hiếp ,trấn lột như lũ côn đồ bắt nạt trẻ nít mà thấy rầu thối ruột.
Chả lẽ ngót bốn mươi năm sau chiến tranh ,cứ đổ mãi nguyên nhân gây ra mọi kém cỏi cho “thằng chiến tranh đế quốc” hay cho “con mẹ lịch sử phong kiến” hay “các thế lực thù địch” trừu tượng mơ hồ mãi hay sao ?. Ba nghìn cây số bờ biển ! Biết bao quốc gia lọt thỏm giữa lục địa,cố quẫy cựa tìm đường ra bốn biển năm châu nằm mơ chả có mà thấy tiếc của trời.
Lại xin quay trở về với căn bệnh giả dối, một cố tật. . . chưa chết người !
.
Căn bệnh ấy đâu chỉ gây ra đủ thứ hệ lụy cho quan hệ cá nhân giữa người với người mà ác hại thay, đã biến tướng thành căn bệnh thổi phồng thành tích giả dối , phổ biến từ trên xuống dưới ,từ trong hệ thống công quyền ra ngoài đời sống xã hội. Đặc biệt hệ thống giáo dục đào tạo- chìa khóa phát triển, có lúc đã phải khàn hơi khản cổ hô hào nhau ” nói không với bệnh thành tích” !. Nghe chừng bệnh đã ngấm vào người, có dễ từ cháu bé ngày đầu tiên đi học đến các đầy tớ của dân, tóc đã pha sương!.
Con số GDP của các tỉnh thành ,các ngành kinh tế mũi nhọn, các quả đấm thép chưa đấm đã rỉ, lại càng được thổi phồng bong bóng bẩy mầu như trẻ nít thời xưa . Vô số thống kê giả, thành tích giả, thành công ảo làm nhiễu loạn thông tin, rất khó định vị định hướng chính xác cho việc hoạch định mũi nhọn kinh tế và chính sách kinh tế vĩ mô. Chuyện đó mấy thập niên qua như chuyện thường ngày ở huyện.
Thôi thì mình giả dối với mình, đóng cửa thanh toán phải quấy với nhau ,thiệt thòi đâu mình chịu đã đành. Đằng này đến chuyện đối ngoại , ngoại giao, liên quan đến an nguy, thể diện quốc gia dân tộc, đặc biệt trong quan hệ với nước láng giềng khủng & khùng phía Bắc, cứ giả mãi ,bưng bít sự thật mãi đến mức yếu kém cả bản lĩnh mới nguy chứ !.
Ví như công luận xã hội đòi bạch hóa “cam kết Thành Đô” quá nhiều điều khuất tất, phủ bóng đen quan hệ Trung Việt gần một phần tư thế kỷ nay, thì cứ quyết để Đảng ,Nhà nước lo, mắc gì đến dân ! Ví như một thời gian dài biển Đông không có gì mới;tầu của ngư dân Việt có bị tầu Trung Quốc bủa vây săn bắt trái phép thi gọi “tầu lạ” như ngoài hành tinh.
Ví như mười sáu chữ vàng nguyên gốc người ta biếu không cho không là “sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông,văn hóa tương đồng,vận mệnh tương quan” mắc gì phải chuyển ngữ vu khoát thành láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện ,ổn định lâu dài,hướng tới tương lai. Ở đâu ra cái nghĩa này thế ? v.v…
Nói về căn bệnh giả dối, dối trên lừa dưới, không dám nhìn thẳng sự thật ở xứ hình chứ “et-sì” có lẽ là chuyện… nghìn đêm lẻ. Hàng trăm cây bút, trong đó phải kể đến các vị chí sĩ ái quốc, các học giả khả kính như Phan Bội Châu ,Phan Chu Trinh ,Phạm Quỳnh ,Nguyễn Văn Vĩnh,Phan Khôi, Ngô Tất Tố, Lê Văn Hòe , Phan Kế Bính…., ngay từ đầu thế kỷ hai mươi đã thẳng thắn chỉ ra những khuyết tật “nội tâm nội tại” của người Việt với tinh thần thực sự cầu thị ,hướng tới văn minh văn hóa mới, sao cho nước Việt dân Việt không lỗi thời. Đâu phải là chuyện bới bèo ra bọ ,vạch áo cho người xem lưng như đám thư lại hủ nho xưa nay “bình loạn”
Thêm một chuyện thời sự. Tổ chức Minh Bạch Quốc Tế cho hay Việt Nam sau 10 năm thực thi quyết liệt Luật phòng chống tham nhũng nhưng hiện đang đứng hàng thứ 116/ 177 quốc gia xếp hạng trên lĩnh vực tham nhũng tài chính công. Mà đâu cần đến “tổ chức ngoại” này nói ra người ta mới biết tham nhũng ở xứ mình trầm trọng. Mấy thập kỷ nay,có thể nói không ngoa ngôn rằng người dân Việt buộc phải sống chung với tham nhũng,với lợi ích nhóm như sống chung với lũ.
Tham như thế nhũng như thế nhưng gần một triệu ông cán bộ đảng viên có chức có quyền từ đỉnh thượng lương cao chót vót xuống “anh phó phòng” thực hiện kê khai tài sản; thanh tra Chính phủ chỉ tóm được mỗi một phần tử kê khai không trung thực. Nghĩa là giả dối chỉ chiếm tỷ lệ rất. . . rất không đáng kể.
Minh bạch tài sản như thế của đội ngũ công chức công bộc của dân Việt “hảo lớ” đạt chuẩn toàn cầu rồi , khó có quốc gia đạo đức văn minh nào sánh kịp!
Không hiểu sao nói tới Thanh tra Chính phủ , cửa công quyền làm cái việc thẩm định tài sản kê khai của lãnh đạo các cấp các ngành , là trớ trêu thay, khối người chỉ liên tưởng đến cái ông cựu Tổng thanh tra Trần Văn Truyền có một tài sản “khủng long tiền sử” đã hạ cánh an toàn ở biệt điện hàng đế vương đất Bến Tre !.Ông ấy lao động cật sức ở cơ quan thanh tra cao nhất nước, đến thối cả móng tay đấy các cụ ạ !
Liệu dân ta , mượn ý thơ của cụ Tản Đà, “dân chín mươi triệu” có ai còn “trẻ con” đến mức tin ở con số cán bộ có chức có quyền tuyệt đối liêm chính như thế ! Hãy nhìn vào khối tài sản của cựu Tổng thanh tra Chính Phủ ,của nguyên Chủ tịch tỉnh Bình Dương, của cựu Bí thư tình ủy Lâm Đồng, của nguyên chủ tịch tỉnh Hà Giang v.v…, mà dư luận báo chí trong lề ngoài lề đã song song “phơi áo” nội bộ giữa thanh thiên bạch nhật thời gian gần đây.
Ngao ngán “sự đời” không minh bạch, ngao ngán kiểu tuyên truyền “vải thưa che mắt thánh (nhân). . . dân” .
Bao giờ người Việt mình mới được tự do sống thật với mình nói ra những điều mình nghĩ; dân chủ sống thật với người để cùng bàn việc dân, việc nước? Mong lắm thay đến thời sự thật lên ngôi, câu cổ ngữ “tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại” được các nhà ngữ học đưa vào . . . .bảo tàng ngôn ngữ Việt thời a-còng!

19/9/14

Hoàng Tuấn Công - 'Tự ái rởm' hay là chuyện 'Giận Tàu, chém chữ Nho'

Hoàng Tuấn Công
Chia sẻ bài viết này

Bài viết Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? của tác giả Xuân Dương đăng trên báo “Giáo dục Việt Nam”, chúng ta có thể xem như một trong những trường hợp tiêu biểu cho hiện tượng “Giận Tàu, chém chữ Nho”, bài ngoại cực đoan, gây nhiễu loạn thông tin và ngộ nhận về văn hóa truyền thống dân tộc hiện nay. Sau khi đồng tình chủ trương "truy bắt" sư tử Tàu, bình hoa Tàu tùy tiện đưa vào các di tích và lên án việc sử dụng chữ Hán trên hoành phi, câu đối ở các ngôi đền chùa, đặc biệt là loại mới trùng tu, xây dựng, tác giả XD đặt ra câu hỏi:
“Mốt lai căng đang tràn ngập mọi hang cùng, ngõ hẻm, đang len lỏi vào các cơ quan công quyền, vào tận chốn thờ tự linh thiêng vì sao vẫn chưa làm thức tỉnh những người có trách nhiệm ở ngành Văn hóa. Vì sao ngành này và các địa phương mới chỉ để ý đến mấy con sử tử đá mà không chú ý đến những điều sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn như hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích?”
Như vậy, chỉ xem cách đặt tên bài viết “Thưa ông Bộ trưởng, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai ?” và trích đoạn trên cũng đủ hiểu, tác giả Xuân Dương xem chữ Hán là phần chìm của tảng băng“văn hóa ngoại lai” và “mốt lai căng” mà Việt Nam cần bài trừ triệt để (!)
Chúng tôi xin được trao đổi đôi điều, những điều mà lẽ ra không cần phải nhắc lại nữa.
1.Chữ Hán có phải là “lai căng”, là “văn hóa ngoại lai” cần phải bài trừ không?
Chưa có bằng chứng nào cho thấy người Việt cổ từng có chữ viết (hiểu theo đúng nghĩa) Không văn tự này thì văn tự khác, chúng ta đều phải sử dụng chữ viết của dân tộc khác. Bởi thế không có cơ sở để nói rằng chữ Hán xâm lăng, triệt tiêu chữ của người Việt.
Điều đặc biệt là trong không ít cuộc chiến tranh giữ nước, người Việt đã biến chữ Hán-chữ vốn do kẻ đô hộ, xâm lược ấy truyền sang với mục đích đồng hóa, thành một thứ vũ khí lợi hại để đánh và chiến thắng chính kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Tống, Lý Thường Kiệt đã thực hiện kế “Tiên phát chế nhân” soạn bài hịch “Phạt Tống lộ bố văn” bằng chữ Hán, kể tội nhà Tống, thu phục được nhân tâm vùng quân sĩ sẽ đi qua, rồi đem quân đánh sang tận đất Tống, phá thành Ung Châu, triệt hạ kho lương chuẩn bị để xâm lược Đại Việt. Khi giặc Tống xâm lăng, bài thơ thần "Nam Quốc sơn hà" lại vang lên làm giặc phương Bắc rụng rời... Những giai thoại đối đáp chữ nghĩa giữa sứ ta và sứ Tàu khẳng định chữ Hán đã được ông cha ta tiếp thu nhuần nhuyễn, uyên thâm không thua kém gì bên "Thiên triều". Trong khởi nghĩa Lam Sơn, khi vây hãm thành Đông Quan lâm vào thế bế tắc, Lê Lợi đã mưu "phạt tâm công" dùng những bức thư chữ Hán lời lẽ vừa cương quyết vừa mềm mỏng, khôn khéo để dụ Vương Thông đầu hàng, tránh đầu rơi máu chảy và bảo vệ vẹn nguyên kinh thành. Khi thiên hạ đại định, "Bình Ngô đại cáo" bằng chữ Hán lại vang lên sang sảng tự hào: "Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác..." "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có..." (Bản dịch)
Cho tới tận bây giờ, những thư tịch cổ bằng chữ Hán của các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn tiếp tục đứng về phía dân tộc Việt Nam khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, tố cáo với thế giới sự ngang ngược của Trung Quốc. Và nhiều, rất nhiều ví dụ khác không thể kể hết.
Chữ Hán có nguồn gốc ngoại lai, nhưng yếu tố ngoại lai đã được ông cha tiếp thu có sáng tạo, và đã trải qua hàng ngàn năm bồi đắp, chắt lọc, trở thành bản sắc truyền thống dân tộc Việt Nam. Nó khác hẳn kiểu bắt chước, sao chép, vay mượn một cách sống sượng, kệch cỡm của văn hóa lai căng.
Vậy lý do gì ông Xuân Dương xếp chữ Hán vào diện "lai căng", "ngoại lai" cần bài trừ ?
2.Vì sao hoành phi câu đối lại viết bằng chữ Hán ?
Trong bài viết, ông Xuân Dương luôn thắc mắc, tại sao hoành phi, câu đối trong các đình chùa, miếu mạo, đặc biệt loại mới xây dựng lại không viết bằng chữ Quốc ngữ: “Không nói đến các di tích được trùng tu, rất nhiều công trình tưởng niệm các danh nhân, đình, chùa mới xây dựng những năm gần đây (ví dụ chùa ở đảo Bạch Long Vĩ, khu lưu niệm danh nhân Cao Bá Quát – Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội) hoành phi câu đối đều bằng tiếng Hán. Bao nhiêu trong số chín mươi triệu người Việt ngày nay có thể đọc và hiểu những chữ đó? Chẳng lẽ phải viết bằng chữ Hán thì công trình mới có giá trị lịch sử?”(HTC nhấn mạnh)
Xin thưa: hoành phi, câu đối viết bằng chữ Hán vì nó vốn sinh ra để viết bằng chữ Hán, sinh ra bởi đặc điểm, cách "chơi" của chữ Hán; và hàng ngàn năm qua cha ông ta vẫn viết bằng chữ Hán chứ không phải bất cứ một loại văn tự nào khác. Cao Bá Quát được người đời suy tôn là ông “Thánh” chữ Nho (“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán...”; “Thần Siêu, thánh Quát”). Bởi vậy, việc sử dụng hoành phi, câu đối chữ Nho để tưởng niệm (không phải “lưu niệm” như ông Xuân Dương viết) ông “Thánh chữ” là việc làm hoàn toàn hợp lý. Chỉ có người muốn đưa chữ Quốc ngữ-thứ chữ Tây đã “bóp chết” chữ Nho (Hán cổ) để “tưởng niệm” Cao Bá Quát mới là điều đáng nói.
Với chuyện hoành phi câu đối trong chùa ở đảo Bạch Long Vĩ dùng chữ Hán cũng hết sức bình thường và hợp lý. Bởi đó là nét đẹp truyền thống trong văn hóa và kiến trúc cổ truyền dân tộc, hình ảnh đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người. Ngoài đảo xa muôn trùng sóng gió mà lại hiện diện một ngôi chùa Việt có nét đẹp cổ kính, gần gũi như vốn đã tồn tại ở đó hàng trăm năm thì còn gì bằng? Nếu sử dụng chữ Quốc ngữ, thì hàng trăm năm sau, ngôi chùa vẫn chỉ mới như ngày hôm qua. Đình chùa, miếu mạo có nét cổ kính, một chút thâm trầm, bí ẩn cũng tạo được hiệu ứng tâm linh so với những nét quá mới và phô bày lồ lộ trước mắt.
Trở lại vấn đề đang bàn. Do nghĩa lý sâu xa, ý tại ngôn ngoại của chữ Hán, bức hoành phi chỉ cần 3 đến 4 chữ, đôi câu đối mỗi vế 5 hay 7 chữ đã nói lên được rất nhiều điều mà chữ Nôm, chữ Quốc ngữ khó nói được, hoặc phải diễn giải ra tới cả trang giấy. Mỗi chữ Hán dù ít nét hay nhiều nét đều được viết trong một ô vuông. Thư pháp chữ Hán đã có hàng ngàn năm tuổi, kết hợp nghệ thuật điêu khắc, sơn son thếp vàng, mỗi bức hoành phi, câu đối chữ Hán với đầy đủ chương pháp, lạc khoản, trở thành bức thư họa khắc gỗ lộng lẫy. Bởi vậy, hoành phi, câu đối chữ Hán không chỉ biểu đạt nội dung, mà hình thức của nó còn tham gia vào không gian kiến trúc nội thất đình chùa, miếu mạo, tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật chạm khắc gỗ hài hòa với những long ly, quy phượng, hoa văn, hương án, tượng thờ...
Nói về chữ Quốc ngữ, xưa ông bà ta gọi là “chữ Tây” vốn sinh ra để viết theo hàng ngang, nay đưa vào câu đối viết theo hàng dọc là bắt chước cách viết chữ Hán. Mặt khác một chữ Quốc ngữ có khi ít ký tự, nhiều ký tự, thòi ra, thụt vào trên hoành phi, câu đối rất thô, cứng và vô hồn. Trong khi đó thư pháp chữ Quốc ngữ lại chưa đủ “pháp” để vừa đảm bảo giá trị văn bản, vừa có yếu tố mỹ thuật. Càng kệch cỡm hơn khi chữ Quốc ngữ cũng được sơn son, thếp vàng, xung quanh chạm khắc vân mây, rồng hóa, đặt phía trên cửa võng làm theo lối cổ. Nó phá vỡ tính thống nhất trong phong cách kiến trúc, bài trí nội thất của đền chùa, di tích. Có lẽ chính bởi vậy mà đã có một thời khi sử dụng chữ Quốc ngữ viết câu đối, người ta phải "gò" các con chữ cái La tinh vào khuôn khổ ô vuông hoặc hình tròn rồi tìm cách viết cho nó na ná giống như chữ Hán để dễ coi hơn. Vậy là "Mèo lại hoàn mèo". Thậm chí mèo chẳng ra mèo, chuột chẳng ra chuột. Dân gian có câu: “Trò nào trống nấy”. Nếu chỉ xét riêng về yếu tố mỹ thuật và nguyên tắc phục cổ trong kiến trúc đền chùa thì cách làm "tân cổ giao duyên" mà ông Xuân Dương ca ngợi mới đáng gọi là lai căng khó chấp nhận.
Ông Xuân Dương cho rằng hoành phi, câu đối phải viết bằng chữ Quốc ngữ bởi "Bao nhiêu trong số chín mươi triệu người Việt ngày nay có thể đọc và hiểu những chữ đó?" (tức chữ Hán-HTC). Tuy nhiên, lại phải hiểu rằng, chữ trên hoành phi câu đối trong đền chùa không thuộc loại bắt buộc phải phổ cập. Nội dung của nó trước tiên là để thờ thần, phật, tiên, thánh, tiền nhân... Nếu cần, chỉ một phiến đá kích thước chừng 50x70 đã có thể làm sơ đồ, phiên âm, dịch, giải nghĩa rõ ràng nội dung các bức hoành phi câu đối Hán Nôm trong một ngôi chùa hay đền miếu.
Với chữ Hán, nhìn vào mặt chữ có thể biết được nghĩa. Tuy nhiên, nhiều chữ đồng âm, dị nghĩa phiên âm Hán Việt, viết bằng chữ Quốc ngữ rất khó phân biệt. Ca ngợi vua tôi bằng chữ Hán mà viết bằng chữ Quốc ngữ: “Quân tắc cổ, thần tắc cổ...; Thượng ung tai, hạ ung tai...” thì khác gì những lời chửi rủa ? Bức đại tự "Đại hùng bảo điện" viết bằng Quốc ngữ ông Xuân Dương ca ngợi mọi người đều đọc được, thực chất chỉ là phiên âm Hán Việt. Bởi vậy đọc được rồi, liệu có bao nhiêu người hiểu "Đại hùng bảo điện" nó là cái chi? Để hiểu được, liệu có thể diễn giải nội dung chừng nửa trang giấy rồi khắc chữ lên đó làm “hoành phi” không? “Bảo điện” thờ Phật thì trước hết phải viết bằng chữ Hán-thứ chữ và nghĩa nhà Phật dùng để suy tôn đức hiệu của Phật (Đại Hùng) chứ? Rồi"Thần công mạc trắc", hay "Vân lai tập hội" nghĩa là gì? Ngay như 4 chữ "Cao sơn cảnh hành" trên đền Hùng nếu phiên âm Hán Việt và viết bằng chữ Quốc ngữ, già trẻ, lớn bé đều có thể đọc được. Nhưng trong khi các nhà Hán học còn ngồi “bàn nát” xem đọc là “cảnh hành” hay “cảnh hạnh” và nó có nghĩa là gì thì liệu mấy người đọc Quốc ngữ hiểu được? Hay cuối cùng vẫn là những người biết đọc chữ Hán mới hiểu ? Hơn nữa, không đọc được chữ Hán là do không được dạy, không được học, không thèm học chứ đâu phải tại thứ chữ đã gắn bó với dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm ?
Làm đình, làm chùa tức là kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống. Việc vứt bỏ chữ Hán đã có hàng ngàn năm lịch sử để thay vào một thứ chữ tuy được gọi là Quốc ngữ nhưng cũng là ngoại lai, với mẫu tự La tinh và cách ghép vần đa số theo tiếng Tây gốc Gaulois; cũng theo chân một kẻ xâm lược đô hộ khác, nhưng mới chỉ thành chữ Quốc ngữ trước 1945. Chữ này vốn không ai dùng để viết hoành phi, câu đối. Vậy cái nào lai căng, kệch cỡm hơn cái nào? Nếu ông Xuân Dương hoặc ai đó thấy cái hay, cái đẹp của chữ Quốc ngữ trên hoành phi câu đối trong đền chùa xin cứ dùng, không ai cấm. Không nên chỉ trích, thúc giục Bộ văn hóa, chính quyền TP Hải Phòng dùng cái mới để triệt tiêu cái cũ, coi sự hiện diện của chữ Hán trên “hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích” là “lai căng”, là “trái với đạo lý dân tộc” (!)
3.Hoành phi, câu đối viết bằng chữ Quốc ngữ có thoát được chữ Hán “lai căng” không ?
Phương án thay thế “văn hóa ngoại lai” và “mốt lai căng” chữ Hán của ông Xuân Dương là dùng chữ Quốc ngữ. Thế nhưng, tên nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” rồi mấy chữ “Độc lập- Tự do-Hạnh phúc” hay bản thân tên tác giả Xuân Dương, “Đại hùng bảo điện” hay “Vạn đức từ tôn” viết bằng chữ Quốc ngữ mà Xuân Dương ca ngợi có tính dân tộc kia đều là từ Hán Việt. Từ Hán Việt ấy ở đâu ra ? Là do ta dùng chữ Hán, đọc theo cách phát âm của ta. Từ Hán Việt mang nghĩa chữ Hán, nó chỉ khoác cái áo phát âm Việt mà thôi. Nói một cách nôm na, cái “thằng” chữ Hán “lai căng” mà ông Xuân Dương cho rằng "trái với đạo lý dân tộc" và cần bài trừ kia chính là bố đẻ ra “thằng con” từ Hán Việt. Vậy, nếu đã kính “ông con”, sử dụng “ông con”, ta có khinh thường, hay “triệt hạ” được “ông bố” không ? Được! Bằng cách nào? Chỉ cho phép “thằng con” Hán Việt ở lại định cư, còn đuổi “ông bố” chữ Hán về nước. Hay! Vậy bức hoành phi có mấy chữ “Đại hùng bảo điện”, hay “Vạn đức từ tôn”, tên ông Xuân Dương rồi mấy địa danh Hoàng Sa, Trường Sa, Song Tử Tây, Bạch Long Vĩ...kia nghĩa là gì nhỉ? Không biết ! Vậy muốn biết phải hỏi ai bây giờ? Hỏi "mẹ” từ Việt. Nhưng "mẹ Việt" chỉ ghi âm từ Hán chứ không ghi nghĩa. Làm sao bây giờ? Chỉ còn mỗi một cách là hỏi "bố đẻ" ra nó, hỏi chính cái "thằng" chữ Hán “lai căng” kia ! Nghĩa là ta phải tra “Hán Việt từ điển”. Nếu tra Từ điển, tự điển của Đào Duy Anh, của Thiều Chửu (vốn cũng phải tham khảo từ điển Tàu)...mà vẫn chưa thông, ta còn phải tìm sang tận bên Tàu trực tiếp hỏi “lão” “Khang Hy từ điển”, hỏi “Từ nguyên" hay "Hán ngữ đại từ điển"...của “Tàu khựa” nữa kia. Nếu ai đó nói rằng, mấy chữ "Đại hùng bảo điện" hay "Hoàng sa, Trường sa"...ấy có gì mà không hiểu nghĩa. Vâng, nhưng nhờ đâu mà hiểu? Cũng là do những người được học chữ Hán dạy cho ta, hoặc tra cứu từ điển chữ Hán mới hiểu được mà thôi. Còn nếu nói “cùng” rằng, tôi không thèm biết nghĩa Hán của nó là cái gì, chỉ biết nó là địa danh, nhân danh mà thôi. Cũng được. Đó là quyền của mỗi người. Tuy nhiên, không nên hô hào, tuyên truyền cho người khác hoặc con cháu cũng phải có cái đức giống mình.
Cha ông ta từng sáng tạo ra chữ Nôm. Thế nhưng chữ Nôm lại cũng được hình thành trên cơ sở các bộ chữ Hán và phép cấu tạo chữ Hán. Mặt khác, rất nhiều chữ mang tiếng là chữ Nôm nhưng thực chất là Hán 100%. Ví dụ: thần, phật, đạo đức, học, hành, bút, mực (mặc) phúc, đức, nhân, tâm,v.v...Vua Quang Trung là người chủ trương triệt để sử dụng chữ Nôm, kể cả trong các văn bản hành chính Nhà nước.Thế nhưng, cái tên Nguyễn Huệ và niên hiệu Quang Trung, rồi thành Phượng Hoàng Trung đô xây dựng ở Nghệ An vẫn phải viết bằng chữ Hán 100% đó thôi.
Cuối cùng, như trên đã nói, hoành phi, câu đối vốn không phải của người Việt mà là cách “chơi” xuất phát từ Tàu. Vậy, ai đó có dám bỏ, và có thể bỏ hết, không dùng hoành phi câu đối nữa không? Có cho rằng những “Ẩm thủy tư nguyên”, “Mộc bản thủy nguyên” “Đức lưu quang” phía trên bàn thờ tổ tiên nhà mình là “lai căng”, là “trái với đạo lý dân tộc” không? Có dám đổi cái tên ý nghĩa, đẹp đẽ của mình hoặc đặt tên cho con cháu mình là cột, kèo, thúng, mủng, dần, sàng được không ? Hay là nói như các cụ, “Kiêng cái nhưng ăn nước?”
4.Yếu tố ngoại lai có làm mất bản sắc và suy yếu dân tộc hay không?
Văn tự hay ngôn ngữ suy cho cùng chỉ là hình thức, phương tiện biểu đạt. Nội dung của nó mới là bản sắc. Rượu gạo Việt Nam đựng trong vỏ chai Mao Đài Trung Quốc vẫn mang hương vị Việt Nam, đâu có biến thành rượu Mao Đài? Các cụ nhà ta xưa học chữ Hán, thi bằng chữ Hán, làm quan "bằng chữ Hán", sáng tác thơ văn, chép sử bằng chữ Hán...thậm chí nghi lễ, thiết chế trong triều cũng theo phép Hán...Thế nhưng các cụ đâu có biến thành người Hán ? Những tác phẩm văn chương bằng chữ Hán đó vẫn chứa đựng giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du có 131 bài thơ chữ Hán thì 122 bài viết ngay trên đất Trung Quốc, lấy những điều mắt thấy tai nghe bên Trung Quốc làm đề tài, cảm hứng. Thế nhưng, nội dung những bài thơ chữ Hán đó vẫn mang tình cảm, tư tưởng của một người Việt Nam, đâu có thành của Trung Quốc? Rồi Truyện Kiều, từ câu chuyện có nguồn gốc Tàu 100%, Nguyễn Du bám sát từng chi tiết nguyên tác, "chuyển thể" thành thơ Nôm (cấu tạo bởi chữ Hán) sao vẫn mang tâm hồn Việt ?
Vua Quang Trung nổi tiếng với câu nói: “đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” phần đa đều là dùng từ Hán, ông vẫn đánh tan 20 vạn quân Thanh đến từ quê hương xứ sở của chính cái chữ Hán kia như thường! Lê Lợi ngày cày ruộng, đêm đọc sách Hán, mười năm nếm mật nằm gai, có cả “Quân trung từ mệnh tập” do ông sai mưu sĩ viết bằng chữ Hán...Vậy mà vẫn khiến kẻ xâm lược tự xưng là “Thiên triều” kia phải dùng chính chữ Hán của “Thiên triều” mà “quỳ gối dâng tờ tạ tội”! (“Đô đốc Thôi Tụ quỳ gối dâng tờ tạ tội, Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng...”-Bình Ngô đại cáo)...Bản thân Lê Lợi về cuối đời còn thân chinh đi đánh giặc, làm thơ chữ Hán với lời tuyên bố đanh thép: Ta già gan sắt vẫn còn đây (Lão ngã do tồn thiết thạch can)...
Văn hóa hay ngôn ngữ của một dân tộc văn minh không phải là cái ao tù. Nó trở thành dòng sông lớn nhờ tiếp thu được lưu lượng nước từ các nhánh sông nhỏ để cuộn chảy đời đời không dứt...Dòng sông lớn ấy vẫn mang tên và bản sắc của chính mình chứ không bị thay bởi cái tên hay sắc màu, hương vị của những khe ngòi đã chảy vào và góp thêm sự lớn mạnh cho nó.
Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên vốn là các nước đồng văn (cùng sử dụng chữ tượng hình) như Trung Quốc. Hiện nay, ở Hàn Quốc và Nhật Bản chữ Hán vẫn được sử dụng trong Quốc ngữ. Theo thống kê của Wikipedia, ở Nhật Bản: "Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng 1945 chữ thường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người. Đến năm 2000, các chữ Hán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên trên 400 chữ". Còn ở Hàn Quốc: "Năm 1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã quy định phải dạy 1800 chữ Hán cơ bản cho học sinh".
Vậy người Hàn Quốc và Nhật Bản sử dụng chữ Hán do họ thấy cần thiết, hay do họ không yêu nước và không có tinh thần tự hào dân tộc? Hay do người Nhật Bản, Hàn Quốc không có mâu thuẫn gì với Trung Quốc? Trong 4 nước đồng văn với Trung Quốc trước đây, hiện chỉ có Việt Nam, Triều Tiên, chữ Hán không còn sử dụng trong Quốc ngữ. Vậy, Việt Nam và Triều Tiên có giàu mạnh hơn so với Nhật Bản và Hàn Quốc không? Tên nước Nhật Bản 日本 (phát âm theo tiếng Nhật là Nihon) được viết hoàn toàn bằng chữ Hán (Kanji) và hiểu theo nghĩa Hán là gốc của mặt trời. Tên núi Phú Sĩ -biểu tượng và niềm tự hào của người Nhật cũng được viết bằng chữ Hán là 富士, (đọc theo tiếng Nhật làFuji). Vậy, người Nhật bản có sợ mình bị nô dịch về văn hóa không? Nhật Bản, Hàn Quốc thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc bằng cách bài chữ Hán, vứt bỏ hoàn toàn chữ Hán trong bộ chữ Quốc ngữ, hay họ tìm cách khuất phục Trung Quốc bằng những thương hiệu như Toyota, Kubota, Sony, Nokia, Huyndai, Samsung... rồi tàu ngầm, máy bay, xây dựng đồng minh chiến lược, củng cố sức mạnh quốc phòng...?
4.Những ý tưởng nguy hiểm và sự nhiệt tình đáng lo ngại:
Theo ý của ông Xuân Dương, cần phải loại bỏ hoàn toàn chữ Hán khỏi các di tích. Tuy nhiên, ông tỏ ra là một người am hiểu luật pháp: "Sẽ là trái Luật Di sản khi đòi hỏi phải thay toàn bộ chữ Hán trong các di tích đã có hàng trăm năm tuổi, (nếu không “trái Luật Di sản”, hàng ngàn bia đá, rồi lớp lớp hoành phi câu đối trong các di tích-những thông điệp của quá khứ sẽ chịu thảm họa như thế nào trước ý tưởng của ông Xuân Dương?-HTC) nhưng sẽ là vô trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia và trái đạo lý dân tộc nếu những công trình văn hóa tâm linh được xây từ ngày thống nhất đất nước đến nay và từ nay về sau lại chỉ có chữ Trung Quốc. Nhà nước cần đưa vào Luật Di sản, hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc sử dụng chữ tiếng Việt trong trong tất cả các công trình văn hóa tâm linh xây mới trên lãnh thổ Việt Nam, có thể chọn thời điểm thi hành từ 1975 đến nay. Đây không chỉ là ý kiến của cá nhân người viết mà là của mọi người."
Không hiểu tại sao cũng là chữ Hán, nhưng trước năm 1975 lại không bị ông Xuân Dương xem là “lai căng”, còn sau năm 1975 lại cần phải bài trừ và bị coi là "trái với đạo lý dân tộc"? Ông căn cứ vào đâu để lập ra cái mốc đó? Các di tích, đền chùa miếu mạo vốn bị tàn phá rất nhiều (do bàn tay con người, do chiến tranh, thời gian...). Bởi vậy số lượng trùng tu (thực chất là xây dựng mới trên nền cũ) sau năm 1975 chiếm số lượng rất lớn (Ví dụ: Nhà Thái học Văn miếu Quốc tử giám được xây dựng hoàn toàn mới, bắt đầu năm 1999 với rất nhiều hoành phi, câu đối chữ Hán). Vậy, khi đề nghị “bắt buộc sử dụng chữ tiếng Việt trong trong tất cả các công trình văn hóa tâm linh xây mới trên lãnh thổ Việt Nam, có thể chọn thời điểm thi hành từ 1975 đến nay” ông Xuân Dương có tính đến hậu quả của việc đoạn tuyệt với truyền thống dân tộc và gây tốn kém cho đất nước như thế nào không? Đề xuất về văn hóa truyền thống của ông Xuân Dương sao đơn giản và giống như chính sách đối với người nhập cư vậy?
Sự lầm lẫn, đánh đồng Trung Quốc xâm lược, Trung văn ngoại ngữ với chữ Hán cổ (chữ Nho), đánh đồng việc tiếp thu yếu tố ngoại lai có chắt lọc, sáng tạo với văn hóa lai căng sống sượng của ông Xuân Dương khiến ta phải lạnh gáy! Vì sao? Vì trong quá khứ, người ta đã từng phạm những sai lầmkhông thể tưởng tượng được, và hậu quả tai hại của nó không thể sửa chữa:
-Đánh đồng giai cấp bóc lột, tầng lớp địa chủ, cường hào, ác bá với những người giàu có được học hành, thông minh chăm chỉ, khôn khéo làm ăn tích tụ được ruộng đất; đồng nghĩa những kẻ ngu dốt, siêng ăn nhác làm với những thân phận bị áp bức, bóc lột; đánh đồng quan hệ chủ-thợ với chủ-tớ...Thế là bắt bớ, đánh giết...kinh hoàng !
-Phản phong, bài trừ mê tín dị đoan thì quy cho tất cả những gì thuộc về phong kiến đều xấu xa, lạc hậu; đồng nghĩa đình chùa, miếu mạo, tôn giáo tín ngưỡng với mê tín dị đoan...Thế là phá hết, đốt hết...Biết bao nhiêu đình chùa, miếu mạo, tín ngưỡng của làng Việt cổ truyền, thờ cúng các bậc anh hùng, hào kiệt có công với nước bị đốt phá hoặc dỡ ra làm trường học...
-Sách vở, thơ văn chữ Nho của cha ông bị đồng nghĩa với sách bói toán, tướng số, mê tín, dị đoan; bị coi là sản phẩm của “phong kiến lạc hậu” cần phải bài trừ. Thế là bia đá làm cầu, nung vôi; hoành phi, câu đối, sắc phong, thần phả, gia phả,...chữ Hán bị đốt hết...
Vậy mà đến tận bây giờ vẫn còn những người cầm bút vạch đường, chỉ lối, thúc giục Bộ văn hóa thông tin truyền thông phải chống văn hóa "lai căng" và "ngoại lai" bằng cách bài trừ chữ Hán. Đồng thời, quy kết việc sử dụng chữ Hán trong các công trình văn hóa tâm linh là " vô trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia và trái với đạo lý dân tộc". Quá khứ đã từng diễn ra những câu chuyện tàn sát, bức tử văn hóa Việt không thể tin nổi. Vậy ai dám chắc một ngày, tinh thần yêu nước, độc lập tự chủ chống Trung Quốc đi đôi với bài trừ hoành phi, câu đối, bia đá… trong di tích theo quan điểm của ông Xuân Dương lại không trở thành hiện thực ?
Lợi ích “thoát Trung” chưa thấy đâu, nhưng hậu quả của việc bài chữ Hán, không thèm dùng chữ Hán của ông Xuân Dương đã hiện ra nhãn tiền. Ví như trong bài viết, ông Xuân Dương đã nhầm lẫn, không phân biệt được hai từ Hán Việt “tưởng niệm” và “lưu niệm” khác nhau thế nào. Ở Phú Thị-Gia Lâm chỉ có Nhà “tưởng niệm” Cao Bá Quát, chứ không có nhà “lưu niệm” Cao Bá Quát. Người ta chỉ gọi là “lưu niệm” một khi Cao Bá Quát từng sống trong ngôi nhà đó, hoặc hiện ở đó vẫn lưu giữ, trưng bày những đồ đạc ông dùng lúc sinh thời, ít nhất là còn có bút lông, nghiên mực, bút tích các tác phẩm chữ Hán...Mặt khác, ông Xuân Dương bàn về chữ Hán nhưng lại không phân biệt được chữ Hán cổ viết trên hoành phi, câu đối (ông bà ta còn gọi là chữ Nho) trong văn ngôn (mà ngày nay dù ở ta hay ở Tàu đều đã trở thành tử ngữ), với chữ Hán trong văn bạch thoại (sinh ngữ, còn gọi Trung văn hay Hán ngữ hiện đại). Văn ngôn và văn bạch thoại khác nhau rất nhiều (về chữ nghĩa, ngữ pháp). Người Trung Quốc hiện nay có thể đọc được chữ trên hoành phi, câu đối Hán nhưng về nghĩa thì chưa chắc đã hiểu (vì họ chỉ hiểu một số từ ngữ Hán cổ thông dụng). Muốn hiểu “Luận ngữ” hay“Kinh thi” họ cũng cần phải có người chuyên nghiên cứu Hán cổ, dịch và chú giải bằng Hán ngữ hiện đại. Chữ Hán viết trên hoành phi, câu đối của người Việt Nam không dùng theo nghĩa và ngữ pháp của Hán ngữ hiện đại (“chữ Trung Quốc” hay “ngoại ngữ” theo cách gọi của ông Xuân Dương). Nói cách khác chúng ta dùng chữ Hán theo cách của cha ông ta từng dùng, từ thời “Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời xây dựng độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”(Bình Ngô đại cáo).
Ông Xuân Dương sợ rằng Trung Quốc vin vào cớ tìm thấy chữ Hán trên các đảo để đòi chủ quyền. Tuy nhiên, nếu sợ như vậy thì phải phá chữ Hán trên hoành phi câu đối trong các Hội quán Phúc Kiến, Triều Châu... ở Phố cổ Hội An trước. Mấy trò “khảo cổ học” kiểu như tìm thấy di cốt của người Trung Quốc ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì Việt Nam đã từng đáp lại rất thuyết phục rằng: ngay tại Gò Đống Đa của kinh đô nước Việt, số di cốt của người Trung Quốc còn lớn hơn nhiều. Mặt khác nếu muốn khẳng định chủ quyền, người ta hoàn toàn có thể viết hoành phi câu đối chữ Nôm bằng thư pháp chữ Hán thời hậu Lê, chứ không dứt khoát phải viết bằng Quốc ngữ. Bởi chữ Nôm nhìn qua giống chữ Hán, nhưng người Trung Quốc hoàn toàn mù tịt. Còn thư pháp chữ Hán thời Lê của ta rất độc đáo, không giống bất cứ một trường phái thư pháp nào bên Trung Quốc. Mặt khác trên các đảo của Tổ quốc, chùa không phải là công trình kiến trúc duy nhất. Một phiến đá lớn khắc tên chủ quyền Việt Nam còn trường tồn hơn nhiều ngôi chùa gỗ.
Do không hiểu chữ Hán trên hoành phi câu đối là chữ thế nào, ông Xuân Dương đã tỏ ra gay gắt, bức xúc, so sánh với chữ Trung Quốc trên các biển quảng cáo nhà hàng, khách sạn. Từ đó, ông đưa ra những câu hỏi khó: tại sao cả thành phố Hải Phòng, cả Bộ Văn hóa lại tùy tiện để cho các công trình tâm linh trên đảo này sử dụng chữ Trung Quốc?". Rồi "Quảng cáo hàng hóa, dịch vụ còn bắt buộc phải viết chữ nước ngoài bé hơn và phải đặt dưới chữ Việt, tại sao ở chốn tâm linh lại không bắt buộc như vậy?".
Ông Xuân Dương coi chữ Nho trên hoành phi câu đối “chốn tâm linh” là “trái đạo lý dân tộc” và phải tuân thủ theo quy định như dùng “chữ Trung Quốc” (với tư cách là một ngoại ngữ) trong “quảng cáo hàng hóa dịch vụ”. Phải chăng tất cả kho tàng tư liệu Hán Nôm rồi những Bia văn miếu Quốc tử giám, Bia Vĩnh Lăng-Lam Kinh, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm...thứ là Bảo vật Quốc gia, thứ thành Di sản thế giới, đều bị xếp vào diện đồ Tàu “lai căng” cần phải bài trừ? Liệu cụ Chu Văn An còn “an” được trong Văn miếu Quốc tử giám, hay cũng phải bật dậy ôm hai bức hoành phi “Vạn thế sư biểu” và “Truyền kinh chính học” bằng chữ Hán mà chạy bởi quan điểm cực đoan của ông Xuân Dương?
Việt Nam có cụ An Chi là người có công trong việc nghiên cứu từ nguyên tiếng Việt, giúp chúng ta hiểu đúng và dùng đúng tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, có người (thức giả hẳn hoi) do không hiểu đã mỉa mai, gọi cụ là "anh Tàu" (vì cho rằng cụ thân Trung Quốc nên nhiều từ "thuần Việt" cụ vẫn cứ tìm cách "gán" hết cho nguồn gốc Tàu). Trong bài Từ nguyên của những từ chỉ quan hệ thân tộc cụ An Chi kết luận: “Cứ như trên thì toàn bộ các từ chỉ quan hệ thân tộc của tiếng Việt đều thuộc gốc Hán. Nhưng ta cũng chẳng cần phải tự ái rởm vì tiếng Pháp gốc vốn là tiếng Gaulois đã bị tiếng Latinh bình dân thay thế 100% mà dần dần trở thành tiếng Pháp hiện đại nhưng vẫn là một ngôn ngữ đã sinh ra một nền văn học rực rỡ và phong phú”.
Chúng tôi xin mượn ý kiến của cụ An Chi khả kính để kết thúc câu chuyện “Tự ái rởm hay chuyện “Giận Tàu chém chữ Nho” ở đây. Chúng tôi cũng xin lỗi và lấy làm tiếc vì đã khiến bạn đọc mất thời gian vào một câu chuyện đã quá cũ. Một vấn đề đã có hướng giải quyết đúng đắn từ thời cụ Đào Duy Anh biên soạn “Hán Việt từ điển” để phục vụ cho việc học Quốc văn ![1]
HTC /18/9/2014
[1]- Khi đang hoàn thành bài viết này, HTC được đọc bài Bàn về việc sử dụng chữ Hán và nguy cơ nô dịch văn hóa ... của ông Xuân Dương trả lời bài Cần nhìn nhận về hệ thống tư liệu chữ Hán ở nước ta như thế nào? của ông Nguyễn Thanh Phong trao đổi về bài Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? (đều đăng trên báo GDVN). Ý kiến nhật xét khách quan của chúng tôi là: hầu hết ý kiến của ông Nguyễn Xuân Phong là đúng; ông Xuân Dương càng viết càng để lộ những lỗ hổng kiến thức và sự lầm lẫn các khái niệm về văn hóa, lịch sử.