Hiển thị các bài đăng có nhãn y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y học. Hiển thị tất cả bài đăng

27/7/25

RÒ BÀNG QUANG – ĐẠI TRÀNG SIGMOID. THÔNG BÁO 4 TRƯỜNG HỢP
                                                                     Bs Võ Ngọc Thạch
                                                                                                                 (Bệnh viện đa khoa Vĩnh Đức, TP Đà Nẵng) 
 Tóm tắt:
 Rò bàng quang- đại tràng sigmoid là dạng rò bàng quang - đại tràng thường gặp nhất. Nguyên nhân phổ biến là viêm/ thủng túi thừa, kế đến là ung thư đại tràng, bệnh Crohn, bệnh viêm ruột, xạ trị , chấn thương, do tai biến biến chứng nội soi… Lâm sàng, mặc dù có nguồn gốc từ đường tiêu hoá, nhưng triệu chứng tiết niệu lại chiếm ưu thế như: tiểu ra khí, tiểu ra phân, nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần.

1/1/22

 Chúc mừng năm mớ!

 Chúc mừng thuốc mới!

 Ngày 22/12/2021 vừa qua, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt( dùng trong khẩn cấp- EUA=emergency use authorization) thuốc viên Paxlovid của hãng Pfizer để điều trị  cho người bệnh Covid-19.

7/10/20

 

Tản mạn về Bia

(Trên mạng)

Lại một tình cờ đã đưa tới sự khám phá ra cách chế biến món nước “Tinh Thần”, uống cho tới tận cùng say xỉn này.

25/5/18

Sự Thật Về Coenzyme Q10

 
Bà Kellyanne Conway, cố vấn cho Tổng Thống Donald Trump, là tác giả của danh từ “Alternative facts” đã đi vào “tự điển dân gian..” “Alternative facts” có thể hiểu nôm na là, “sự thật như vậy nhưng không hẳn là vậy.”
Trong “kỹ nghệ” thuốc men, có những sự thật đã bị bóp méo hay che đậy, thí dụ, liên quan đến coenzyme Q10 (CoQ10, đọc là Cô-Q-ten, là một chất chống oxide hóa, antioxidant được cơ thể sản xuất ra, nhưng cũng có trong thức ăn và thuốc bổ phụ suplement).

12/2/16

Cực hiếm: Ca sinh đôi cùng cha mẹ nhưng lại khác màu da

Sự kiện: Mang thai đôi
Chính sự khác biệt giữa màu da đen – trắng đã khiến cặp song sinh thu hút sự chú ý của rất nhiều người.

Nếu như tỷ lệ các cặp song sinh khác màu da trên thế giới là cực hiếm, chỉ chiếm khoảng 1/1 triệu thì 2 bé Anaya và Myla (sinh ra tại Sale, Greater Manchester, Anh) đã lọt vào top đặc biệt này.
Nếu như Anaya có đôi mắt xanh, da trắng giống như mẹ của bé - cô Hannah Yarker - thì người em gái Myla lại có đôi mắt nâu, da đen giống như cha Kyle Armstrong.
Mẹ của 2 bé, cô Yarker cho biết mình vô cùng ngạc nhiên trước sự khác biệt ngoại hình của hai em bé. Thậm chí, cô còn không dám tin đây là hai chị em chứ đừng nói là sinh đôi. Cô đã phải giải thích rất nhiều với bạn bè, người

16/12/13


 Case report
                             Preureteral Vena Cava

                                                                          Vo Ngoc Thach
 Abstract

    Retrocaval Ureter or Preureteral Vena Cava or Circumcaval Ureter is a rare congenital abnormality in which ureter is lie behind the Vena cava, causing obstruction which leads to hydronephrosis and lumbar pain. It occurs as a consequence of the persistence of the subcardinal vein during embryologic development. Intravenous urography, retrograd pyelography are main diagnostic investigations. Today, CTscan with using three- dimensional imaging may be the procedure of choice to confirm the diagnosis and avoid retrograd ureteropyelography. Surgical intervension is requied in most of cases.
  We present a case of 23 year old female which presented with right flank pain, hydronephosis on Ultrasound. Diagnosis was confirmed by UIV and Ctscan. Open surgical managent was performed at Pacific Tam Ky Hospital on August 6, 2013. The ureter segment  behind of the Vena cava was excised, ureteroureteral end to end reanastomosis was done. Postoperative recovery was uneventful.

  Key words:  Retrocaval Ureter, Preureteral Vena Cava, Circumcaval Ureter, Congenital venous anomaly.



Thông báo một trường hợp: Tĩnh Mạch Chủ Dưới nằm trước
                        Niệu quản

                                                                                             Bs- Võ Ngọc Thạch
I/ Giới thiệu

     Niệu quản nằm sau Tĩnh mạch chủ, là một dị tật bẩm sinh hiếm gặp, do phát triển bất thường của mạch máu trong thời kỳ sinh trưởng bào thai. Dị tật được Hochstetter  mô tả đầu tiên vào năm 1893. Trên y văn thế giới, khoảng trên 350 ca đã được báo cáo [7,13]. Ở Việt nam, trên dưới 20 trường hợp đã được phát hiện [6,8]. Tại Bệnh viện Thái Bình Dương- Tam Kỳ, Quảng Nam, vào ngày 6/8/2013, chúng tôi đã gặp và điều trị thành công một trường hợp bệnh lý này; nay, thông báo để quí đồng nghiệp có thể chia sẻ trong các bệnh nhân tương tự có thể gặp.

 II/ Trường hợp lâm sàng
   1, Hành chánh
      Bệnh nhân:  Trần Thị Ly N… , 23T, nữ
      Địa chỉ: phường Phước Hòa, tp Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
      Vào viện: ngày 5/8/2013   , SNV:1308000277
    2, Lý do nhập viện: đau hông lưng bên phải
    3, Bệnh sử:
        Bệnh nhân đau hông lưng bên phải trên 3 tháng nay, đau âm ỉ, không tiểu máu,          không tiểu buốt, có dùng thuốc, nhưng không khỏi. Gần đây đau nhiều hơn, đi khám bệnh, phát hiện Thận Phải ứ nước, nên xin nhập viện điều trị.
    4, Khám hiện tại:
        Bệnh nhân tỉnh táo, huyết động ổn định, hội chứng nhiễm trùng(-), hội chứng đường tiểu dưới(-). Khám xét lâm sàng không thấy gì đặc biệt, ngoài dấu hiệu Rung thận Bệnh nhân thấy đau tức nhẹ.
        Cận lâm sàng:                                                                                      
UIV trước mổ
-         Có biểu hiện thiếu máu nhẹ
-         Sinh hóa máu trong giới hạn bình thường
-         Tổng phân tích nước tiểu trong giới hạn bình thường
-         Siêu âm: Thận Phải ứ dịch độ 2, niệu quản đoạn trên dãn lớn
-         KUB: không thấy sỏi cản quang
-         UIV: Đài bể thận phải và niệu quản trên dãn lớn, có hình ảnh như cây kèn Saxophone, hình dáng và chức năng thận Trái bình thường
-         Ctscan Bụng: cho hình ảnh đường tiết niệu cũng tương tự như trên UIV, đặc biệt không thấy hình ảnh khối choáng chỗ sau phúc mạc
     5, Chẩn đoán: Dị dạng Tĩnh mạch chủ dưới nằm trước Niệu quản
     6, Điều trị: Ngoại khoa, lên lịch mổ chương trình( mổ mở)
                       Trong mổ xác định chẩn đoán trước mổ là đúng
                       Tiến hành cắt bỏ đoạn Niệu quản nắm sau TMCD, đưa Niệu quản nằm
                        lại đúng vị trí, nối Niệu quản- Niệu quản tận tận, trên 1 double J, 6Fr ;
                        gởi mẫu Niệu quản được cắt bỏ xét nghiệm GPB.
                       Hậu phẫu hoàn toàn ổn định, xuất viện sau 5 ngày .
                                                                                                                           
Hình NQ dãn lớn
Hình ảnh CTscan

 III/ Nhận xét- Bàn luận:

     1, Nguyên nhân
         Đây là một dị dạng của Tĩnh mạch chủ dưới trong quá trình phát triển bào thai. Về
         Phôi thai học, 3 đôi tĩnh mạch nguyên thủy gồm: Tĩnh mạch gốc sau (posterior cardinal veins), Tĩnh mạch gốc dưới ( subcardinal veins), Tĩnh mạch gốc trên( supracardinal veins), lần lượt xuất hiện trong quá trình phát triển phôi thai và có liên quan chặt chẽ với trung thận, và đã tạo nên thân của Tĩnh mạc chủ dưới.[1,4]. Bình thường Tĩnh mạch chủ dưới phần dưới thận do
 tĩnh mạch gốc trên tạo nên; nhưng nếu nó do tĩnh mạch gốc dưới tạo thành, thì niệu quản lại nằm sau tĩnh mạch và bất thường xảy ra ( Theo Maksimenko-1949, Hollinshead-1956) [2,4,5]; tuy nhiên, Considin (1966) cho rằng: Dị tật xảy ra là do tồn tại của tĩnh mạch gốc sau, trong quá trình phát triển phôi thai [5]; có lẽ đây là một mhầm lẫn do in ấn chăng(?). Như vậy về mặt thuật ngữ thì Preureteral Vena Cava là chính xác nhất, vì đây là sự phát triển bất thường của mạch máu bào thai.
CTscan-3D

Hình TMCD nằm trước NQ
     2, Phân loại
 Bateson và Atkinson (1969), Crosse và cộng sự (1975), Kenawi và Williams (1976) [1,7] chia dị dạng này thành 2 type. Type I, hay gặp nhất, thường gây biến chứng thận ứ nước nhiều, Niệu quản thường bị chèn ép ở mức bờ ngoài cơ Thắt lưng chậu ( Iliopsoas) và bị gấp khúc, trước khi nó chui sau Tĩnh mạch chủ dưới; Niệu quản phía trên chỗ chèn ép dãn lớn kết hợp với ứ nước ở đài- bể thận, làm cho hệ thống bài niệu  có hình thù giống như cây kèn Saxophone hay chữ “J” ngược trên phim UIV. Type II, ít gặp hơn, tình trạng ứ nước ở thận cũng nhẹ hơn, niệu quản không bị gấp khúc, trên UIV, thường thấy Bể thận và Niệu quản nằm ngang, thẳng góc với cột sống.
Khâu nối NQ
     3, Tỉ lệ mắc bệnh
        Khi khám nghiệm trên tử thi (autopsy), người ta thấy tỉ lệ này là # 1/1500 ( Heslin và Mamonas, 1951) [1,4,]. Như vậy, tỉ lệ mắc bệnh này trong dân chúng không hề nhỏ, nhưng có lẽ đa phần thuộc type II, không ( hoặc ít) gây triệu chứng, nên người bệnh không được phát hiện và cứ thế sống khỏe mạnh cho đến hết đời!
        Tỉ lệ giữa nam và nữ là 4:1 ( Xiaodong và cs 1990); năm 1976, Kenawi và Williams, tổng kết Y văn thế giới, thấy có, 114 nam và 41 nữ, tỉ lệ: 2,5:1.[7]
        Đây là một dị tật bẩm sinh, bệnh nhân chỉ có triệu chứng khi Thận bị ứ nước. Trước đây, trên Y văn, đa số bệnh nhân được phát hiện ở lứa tuổi từ 30- 40 [4,5,6,7]. Ngày nay, bệnh nhân được chẩn đoán sớm hơn nhiều, có lẽ, nhờ có phương tiện hiện đại, siêu âm là một thí dụ, phát hiện Thận ứ nước sớm nhất.
      4, Triệu chứng lâm sàng:
           Triệu chứng phụ thuộc vào mức độ ứ nước của Đài-Bể thận, thông thường Thận ứ nước từ độ I-II trở lên thì có biểu hiện lâm sàng như: đau hông lưng, nhiễm trùng Niệu, nặng hơn có thể có viêm Thận – Bể Thận, đái máu v.v.., đôi khi có kèm theo sỏi [5,6,7]
     5, Xét nghiệm:
           Hình ảnh X-quang là quan trọng nhất, nó quyết định chẩn đoán, với type I, trên UIV, hình ảnh Đài- Bể thận-Niệu quản dãn giống như hình cây kèn Saxophone hay như hình cái móc câu. Tuy nhiên, với hình ảnh này, cũng cần phân biệt với những trường hợp như: khối u sau phúc mạc, hoặc Xơ hóa sau phúc mạc gây chèn ép và làm gấp khúc Niệu quản. Để chứng minh Niệu quản nằm sau TMC, thì film chụp Niệu quản- Bể thận ngược dòng ( Retrograde Pyelography) là có giá trị hơn cả, với hình ảnh Niệu quản đi chếch từ phải qua bên trái cột sống sau đó lại vòng qua lại bên phải, làm cho Niệu quản có hình chữ S. Ngày nay, nhờ có Ctscan nên việc chẩn đoán được thuận tiện hơn, chỉ cần chụp Niệu quản- Bể thận ngược dòng kết hợp với cắt lớp CT là thấy ngay hình ảnh Niệu quản nằm sau TMCD. Với kỹ thuật 3D, Ctscan, tạo dựng hình ảnh càng rõ ràng hơn và không cần thiết phải làm Retrograde Pyelography, một thủ thuật xâm nhập [1].
UIV sau mổ
    6, Điều trị:
         Khi đã có biến chứng Thận ứ nước do chèn ép thì việc điều trị phẫu thuật là cần thiết. Việc cắt nối đưa Niệu quản trở về vị trí giải phẫu bình thường, có thể thực hiện bằng mổ mở  hay bằng phẫu thuật Nội soi là tùy thuộc vào trang thiết bị và tay nghề của PTV. Phẫu thuật nội soi, có ưu điểm là :thẩm mỹ, ít đau, thời gian phục hồi nhanh hơn, nhưng thời gian mổ kéo dài hơn.
        Việc cắt-nối là quan trọng nhất, trước đây, đa số tác giả đều nối kiểu Niệu quản- Niệu quản tận-tận, nhưng ngày nay, theo Campbell Urology (2012) [5], đièu trị chuẩn bất thường này là mổ mở và cắt nối Bể thận- Bể thận ( The standard repair of retrocaval ureter is open surgical pyelopyelostomy), nối theo kiểu này sẽ tránh được biến chứng hẹp miệng nối sau này.


 IV/ Kết luận:

     Là một dị tật hiếm nhưng có thể gặp, do vậy, đứng trước một trường hợp Thận ứ nước mà không có nguyên nhân rõ ràng, thì nên nghĩ đến bệnh lý này, để tránh bỏ sót và điều trị cho Bệnh nhân tốt hơn!
…………………………………………………………………………………………

 Tài liệu tham khảo
   
   1, Craig A. Peters, MD, FACS, FAAP. Richard N. Schlussel, MD. Cathy Mendelsohn, PhD. Ectopic Ureters, Ureterocele, and Ureteral Anomalies. In: Campbell-Walsh UROLOGY (2012) Alan J. Wein,MD,PhD (Hon), FACS ,editors. 10th Edition, Volume 4.   Saunders, an imprint of Elsevier Inc. Pp: 3263-3265
   2, M.D. Dzhavad, E.M. Shimkus. Ureteral Anomalies. In: Surgery of  Kidney and Ureteral Anomalies (1980). Moscow; pp: 351-356.
   3, N.R. Dunnick, MD, C.M. Sandler, MD. Congenital Anomalies. In: Textbook of URORADIOLOGY (1997) 2nd edition. Williams & Wilkins. Pp: 25-27
   4, Richard N. Schlussel, MD. Alan B. Retik, MD. . Ectopic Ureters, Ureterocele, and  other Anomalies of the Ureter. In: Campbell’ UROLOGY (2002). Alan B. Retik, MD. E. Darracott Vaughan, Jr., MD. Alan J. Wein, MD, editors. 8th edition, Volume 3. SAUNDERS. Pp: 2044-2046.
  5, Stephen Y.Nakada, MD. Thomas H.S.Hsu, MD. Management of Upper Urinary Tract Obstruction. In: Campbell-Walsh UROLOGY (2012) Alan J. Wein,MD,PhD (Hon), FACS ,editors. 10th Edition, Volume 4.   Saunders, an imprint of Elsevier Inc. Pp: 1147-1149
   6, Trần Chí Thanh, Đỗ Ngọc Sơn, Vũ Nguyễn Hải Ca, Phạm Văn Thành Công. Kết quả điều trị phẫu thuật hẹp Niệu quản sau Tĩnh mạch chủ dưới type I.Y Học Thực Hành số 769+770. Huế 6-2011, trang: 28-30.

   Tham khảo trên mạng:

   7,  Diagnosis and Treatment of the Circumcaval Ureter - EU-ACME

eu-acme.org/europeanurology/upload.../Salonia.pdmodified.
   11, www.tua.org.tw/magazine/.../dw2006210145817_643-1....
   12 ,www.tua.org.tw/.../dw2005125171313_蔡德甫494-1.pdf
   13, www.jumdc.tuf.edu.pk/articles/volume.../JUMDC-10.pdf

       14, Left retrocaval ureter associated with left inferior vena cava.

www.ajronline.org/doi/pdf/10.2214/ajr.155.3.2117354 

  15, Retrocaval ureter: a venous anomaly causing ureteric obstruction ...

     www.sljol.info › ... › Vol 10, No 1 (2009)


26/7/13

Một số vắc xin ở VN thuộc thế hệ cũ 



Một số vắc xin đang sử dụng tại Việt Nam thuộc thế hệ cũ nên phần nào đã ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ và tỷ lệ các phản ứng sau tiêm chủng.
·                                  
Đây là ý kiến của PGS.TS Đỗ Sỹ Hiển, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về sức khỏe cộng đồng, Nguyên chủ nhiệm Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia cho biết tại cuộc hội thảo “Sử dụng vắc xin chất lượng, an toàn và hiệu quả” do Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật thành phố Hà Nội tổ chức ngày 24/7.
 PGS.TS Đỗ Sỹ Hiển cho biết, vắc xin lưu hành ở VN dù sản xuất trong nước hay ngoài nước đều đạt các tiêu chuẩn của VN và quốc tế dành cho sản phẩm. Tuy nhiên, một số vắc xin đang sử dụng tại VN thuộc thế hệ cũ nên đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và tỷ lệ các phản ứng sau tiêm chủng.
Vị chuyên gia này lấy dẫn chứng ví dụ như vắc xin viêm não Nhật Bản nước ta đang sử dụng trong chương trình tiêm chủng mở rộng là vắc xin được sản xuất từ não chuột. Đây là vắc xin đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo không sử dụng. VN đang sử dụng vắc xin bại liệt uống trong khi WHO cũng khuyến cáo nên dùng vắc xin bại liệt tiêm bởi nếu dùng vắc xin theo đường uống, virus bị thải ra ngoài môi trường có thể gây bệnh ngược trở lại cho cộng đồng.
Tiêm chủng (ảnh- internet)
“Điển hình nhất là vắc xin ho gà toàn tế bào. Thời gian vừa qua chúng ta đã phải chứng kiến rất nhiều ca tử vong của các cháu bé khi tiêm vắc xin Quinvaxem có chứa thành phần ho gà toàn tế bào. Kết luận cuối cùng đưa ra là nguyên nhân tử vong không phải do vắc xin.  Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng việc vắc xin ho gà toàn tế bào chứa đến hơn 3000 kháng nguyên sẽ không an toàn bằng vắc xin thế hệ mới vô bào chỉ có 3-5 kháng nguyên. Vắc xin thế hệ cũ toàn tế bào không an toàn bằng vắc xin thế hệ mới vô bào nên Hàn Quốc dù là nước sản xuất ra vắc xin Quinvaxem nhưng không sử dụng mà chỉ bán cho các nước, trong đó có VN”, PGS.TS Hiển nói.
Trên thực tế việc sử dụng vắc xin thế hệ mới có yếu tố ho gà vô bào tại các điểm tiêm dịch vụ có trả tiền, tỷ lệ trẻ có phản ứng sốt, đau và các phản ứng nặng hơn là rất thấp. Đây cũng là một thiệt thòi và thách thức lớn cho công tác sử dụng vắc xin phòng bệnh. Khi tỷ lệ phản ứng cao sẽ gây tâm lý lo lắng cho cộng đồng và làm giảm tỷ lệ tiêm chủng, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vắc xin phòng bệnh.  
Đầu tư cho tiêm chủng còn quá thấp
Nhiều chuyên gia cho rằng, hiện Việt Nam đầu tư cho công tác tiêm chủng mở rộng còn quá thấp và chưa tương xứng với nhu cầu và hiệu của vắc xin mang lại.
Theo báo cáo của UNICEF và WHO năm 2012 thì ở Việt Nam ngân sách nhà nước chi để mua vắcxin chỉ đạt khoảng 30%, số còn lại là viện trợ.
Trên thế giới đã có 26 bệnh có vắc xin bảo vệ nhưng VN mới có 9 vắc xin phòng bệnh cho trẻ được sử dụng trong chương trình tiêm chủng mở rộng gồm: bạch hầu, ho gà, uống ván, sởi, bại liệt, lao, viêm gan B, viêm não Nhật Bản, viêm đường hô hấp do Hib.
Nhiều vắc xin phòng chống bệnh nguy hiểm chưa được sử dụng trong chương trình tiêm chủng mở rộng như  vắc xin phế cầu, thủy đậu, rubella, quai bị, cúm mùa, viêm ruột do Rota virus, ung thư cổ tử cung…
Để nâng cao chất lượng tiêm chủng, PGS.TS Hiển đề xuất việc xã hội hóa công tác tiêm chủng như một giải pháp quan trọng. Bởi do nguồn lực có hạn, nhà nước cần coi tiêm chủng dịch vụ có trả tiền là hình thức xã hội hóa tiêm chủng thích hợp và cần thiết để trẻ em được tiêm nhiều vắc xin hơn và vắc xin đến được nhiều người hơn thay vì chỉ coi đây là hình thức kinh doanh như hiện nay.
“Đặc biệt, ngành y tế cần có sự kết nối giữa tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng dịch vụ để kiểm soát được chất lượng, an toàn của dịch vụ và tình hình tiêm chủng trong cộng đồng. Việc xã hội hóa thành công của việc tiêm vắc xin dại từ nhiều năm nay là một ví dụ thành công về xã hội hóa,” ông Hiển phân tích.
Còn theo GS.TS Nguyễn Đình Bảng, nguyên Viện trưởng Viện Kiểm định vắc xin và sinh phẩm y tế quốc gia, để sử dụng vắc xin chất lượng, an toàn và hiệu quả ngay cả với vắc xin thế hệ mới nhập khẩu từ nước ngoài cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ.
“Nếu vắc xin nhập khẩu không được kiểm soát nhiệt độ tốt trong quá trình vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vắc xin. Năm 2000, Bộ Y tế đã phải ra quyết định hủy bỏ nhiều triệu liều vắc xin DPT (vắc xin phòng 3 bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván) do UNICEF tài trợ trị giá gần 700.000 USD do vắc xin bị đông đá trong quá trình vận chuyển. Đây là một bài học kinh nghiệm sâu sắc trong việc kiểm soát chất lượng vắc xin nhập khẩu”, GS Bảng chia sẻ.
Theo GS Bảng để giám sát được chất lượng vắc xin nhập khẩu, Việt Nam cần có đơn vị chuyên trách đủ kỹ năng chuyên sâu. “Tuy nhiên trên thực tế Việt Nam chưa đạt được kỹ năng đó, chúng ta chưa thể kiểm soát được chất lượng của tất cả các vắc xin nhập khẩu như vắc xin phối hợp  Quinvaxem. Việc xác nhận chất lượng vắc xin nhập khẩu nếu chỉ căn cứ đơn thuần vào soát xét hồ sơ thì không thuyết phục khoa học", GS Bảng nói.
Mai Hương

 theo Khampha.net

25/7/13

Choáng phản vệ không rõ nguyên nhân???

                                                                                                                                          BS Lê Đình Phương
Choáng phn v là gì?
Choáng phn v (CPV) là mt tình trng d ng nng n mc đ toàn thân và đe do tính mng. Thường xy ra trong vòng vài giây cho đến vài phút sau khi cơ th tiếp xúc vi mt cht gây d ng hay d nguyên. Các triu chng đin hình ca CPV thường là co tht khí phế qun gây tím tái, suy hô hp, ngng tim, lon nhp, tn thương nhiu ni tng… và tt yếu s dn đến t vong nhanh chóng, nếu không được chn đoán kp thi.
Nguyên nhân ca choáng phn v
Khác vi nhiu phn ng d ng nh khác có th xy ra nhiu ngày sau khi tiếp xúc vi d nguyên, nguyên nhân trc tiếp ca CPV thường đươc xác đnh rt nhanh vì phn ng cc kỳ nng này xy ra gn như ngay tc thì sau khi tiếp xúc vi d nguyên. Các d nguyên này được xếp thành 3 nhóm chính:
1.                Thc ăn: lòng trng trng, đu phng, chocolate, sa bò… Tuy nhiên, d ng vi thc ăn thường rt hiếm khi đưa đến CPV đe do tính mng.
2.               Côn trùng cn, ong đt
3.               Thuc: có nhiu loi thuc có th dn đến CPV. Penicilline là mt ví d đin hình. Vi tính cht cp kỳ ca CPV, xy ra ngay sau khi dùng thuc, hoàn toàn không khó đ xác đnh bng bnh cnh lâm sàng v nguyên nhân ca CPV là do thuc.
Gii phu bnh lý hay gio nghim t thi có th cung cp nhng bng chng v CPV: tn thương đa ph tng, sung huyết, phù n, xut huyết và đc bit là co tht phế qun do d ng nng.
Vì sao tiêm vaccine mà chết?
Vi kết qu m xác 3 tr sơ sinh xu s va t vong bnh vin Hướng Hoá, Qung Tr, người ta đã khng đnh chc chn nguyên nhân ca cái chết này là do CPV. Mt tr sơ sinh kho mnh, đ cân, trong vòng 24 gi đu ch tiếp xúc vi sa m, vaccine và… không khí. Mà sa m và không khí thì chưa bao gi gây CPV hàng lot c (?)
Ba v đt t, xy ra vài phút sau khi tiêm chích thuc, trên ba cơ đa kho mnh, thì ch có nhng sinh viên y khoa cc kỳ kém ci mi không phán đoán được nguyên nhân gây CPV là do đâu mà ra.
Do đó, phi nêu đích danh nguyên nhân ca nhng v chết thm này là do chính l vaccine kia, ch không phi là “CPV không rõ nguyên nhân” như ông Nguyn Trn Hin, Vin trưởng Vin V Sinh dch t TW đã công b. S mp m này hoàn toàn có tính gian ln và che du dư lun v mt s tht đã quá hin nhiên.
Không th
có lý do nào khác, ngoài nhng l vaccine do Công ty TNHH mt thành viên vc xin sinh phm s 1 (Vabiotech) sn xut.
Xin nhc li, theo qui chun và kinh nghim quc tế, vaccin nga VGSV B là mt vaccine cc kỳ an toàn. Trang thông tin chính thc ca Trung Tâm Kim soát bnh tt Hoa Kỳ (CDC) khng đnh: “k t khi áp dng vào năm 1982, đã có hơn 100 triu lượt người được chích và hoàn toàn không ghi nhn được tác dng ph nghiêm trng nào. Tác dng ph ch yếu là đau ch tiêm chích” (Ngun: (http://www.cdc.gov/hepatitis/B/bFAQ.htm#bFAQ38). Vì vy, vin dn nhng t l, xác sut d ng thuc vào trường hp này cũng là mt li nói di.
Khác vi nhng loi vaccine khác đòi hi bo qun lnh liên tc, vaccine VGSV B hoàn toàn không b hư hng khi tiếp xúc vi nhit đ phòng. Tài liu ca WHO ghi rõ: “gi vaccine viêm gan B 37o trong 1 tun không nh hưởng đến tính sinh min dch trên người ln khe mnh. T l chuyn đi huyết thanh (to ra được kháng th bo v) là > 98% (Ngun:http://www.who.int/entity/immunization_delivery/optimize/use_of_vaccines_outside_cold_chain.pdf)
Đem cúp đi
n ra đ đ tha cũng là mt li nói di vng v khác.
Bên cnh đó, mt lot nhng bt b có tính hành chánh v qui trình chích nga (không ghi chép, không lưu v, đ chung vaccin vi các sinh phm khác…) như li ông Hin cũng là mt dng đôi chi t hi. Đ an toàn ca vaccine là khâu bào chế, không phi vì tuyến dưới có lưu v thuc hay có ghi chép cn thn mà tr em bt chết, thưa ông GS TS Vin trưởng.
Ch có th nói rng, công b kết qu “CPV chưa rõ nguyên nhân” là nói di, quanh co và lp liếm. Nguyên nhân chc chn và trc tiếp là qui trình bào chế vaccine công ty trách nhim hu hn kia, mà B Y tế là người bao thu các sn phm ca nó bng tin thuế nhân dân qua chương trình tiêm chng quc gia.
Không th có s thc nào khác hơn! Ch khi nhìn thng vào nguyên nhân là nhng l vaccine oan nghit kia, và thay thế nó bng vaccine đúng chun như thế gii đã dùng, mi có th chm dt được cnh tr sơ sinh chết thm.
                                                                                                                                                       Theo Dr. Nikonian