Thuý Vân ơi! Lệ nhỏ quanh
phận người.
Tháng trước, có mấy ngày “cởi ngựa xem hoa” bên Tàu, khi di chuyển từ Hàng Châu về lại khách sạn, đoàn có đi qua cây cầu khá dài, bắt qua dòng sông khá rộng, hdv giới thiệu đây là sông Tiền Đường. À! Hoá ra Tiền Đường là có thật, ngày xưa, đọc/ học Kiều, cứ tưởng con sông này do Thanh Tâm Tài Nhân nghĩ ra vì cái tên có “hơi hớm” liêu trai! Google xem: đây là con sông rộng, dài nhất của tỉnh Chiết Giang, do địa hình dòng chảy thế nào đó mà ở cửa sông có “thuỷ triều vảy cá” rất đẹp, độc đáo, hút hồn du khách. Hôm đó, trời về chiều, mặt sông ngầu đục, ngồi trên xe nên chẳng cảm nhận được gì.
Đọc Kiều, ở đoạn cuối, ai cũng biết, Kiều non nớt bị Hồ Tôn Hiến ngọt nhạt, lừa, bảo khuyên Từ Hải ra hàng, Từ Hải (coi vậy mà tơ!), dù đã trách Kiều: “Từ rằng: Tâm phúc tương tri/ Sao nỡ bày kế khuyên thì phụ nhau” ( Nôm na: Ta với nàng đã quá hiểu và thương yêu nhau, nàng sao nỡ khuyên ta ra hàng, khác nào đưa ta vào chỗ chết sao.). Nhưng rồi vẫn nghe lời vợ và bị “chết đứng”. Hiến ta làm nhục
Kiều, rồi ép gả cho một Thổ Quan nơi biên thuỳ, hòng kiếm cớ ngoại phạm. Trong đêm động phòng, Kiều uất ức, u uẩn, nhảy sông Tiền Đường mong kết thúc sớm một đời ô nhục. Nhưng đâu phải muốn là được(!), số phận đã sắp đặt, Kiều được sãi Giác Duyên cứu vớt; để sau này có ngày đoàn tụ với gia đình, một kết thúc có hậu.
Đọc Kiều, ai cũng biết, Thuý Vân, chỉ để “làm nền” cho Kiều
“toả sáng”. Nhưng, cái nền đẹp quá “ Vân xem trang trọng khác vời/ Khuôn trăng
đầy đặn, nét ngài nở nang/ Hoa cười, ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc,
tuyết nhường màu da”. Miệng Vân cười như hoa, giọng nói trong như ngọc, mái tóc
còn mềm hơn mây mùa thu, và làn da thì… đến tuyết còn không có cửa! Trên cái nền
ấy, nhân vật chính xuất hiện “ Kiều càng sắc sảo mặn mà/ So bề tài sắc lại là
phần hơn!/ Làn thu thuỷ nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
Cái đẹp cộng với tài năng thiên bẩm cầm kỳ thi hoạ, “Thông minh vốn sẵn tính trời/
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm/ Cung thương làu bậc ngũ âm/ Nghề riêng ăn đứt
Hồ trường một chương”..., làm cho Kiều là đỉnh của chóp! Ở Vân chỉ độ “mây thua,
tuyết nhường”, ở Kiều bắt đầu có sự đố kị “hoa ghen, liễu hờn”, mầm mống cho một
chuỗi “đoạn trường” phía sau. Thiên tài là ở đó, chỉ vài nét chấm phá mà dự cảm
cả một số phận. Nhìn sang phương bắc, Bạch Cư Dị (772-846), tả người đẹp Dương
Quý Phi, trong Trường Hận Ca nổi tiếng, “ Một cười trăm vẻ thiên nhiên/ Sáu
cung nhan sắc thua hờn phấn son”(“ Hồi mâu nhất tiếu bách mị sinh/ Lục cung phấn
đại vô nhan sắc”. Tản Đà dịch thơ), xem ra không hay gì mấy! Dông dài chút, để
thấy Kiều- Vân, kẻ tám lạng người nửa cân; chớ không đến nỗi như Vũ Trinh (1759-
1828, rể của Nguyễn Khản, gọi Nguyễn Du bằng chú vợ), đã nặng lời với người đẹp
rằng: “ Thuý Vân xuất hiện ba lần mà lần nào cũng như hòn đá. Trong Hội đoạn
trường sao có thứ ngốc xuẩn như vậy được! Cô Đạm Tiên còn làm gì được nàng nữa!
Nàng chỉ có thể theo sự giàu sang mà làm mệnh phụ thôi !”.Thực ra mà nói, Kiều,
Vân là tiểu thơ khuê các; Vân là em, được cha mẹ, chị Kiều thương yêu chăm sóc,
lại trong độ tuổi mới lớn, nên hồn nhiên vô tư lự là đúng; nói Vân vô cảm khi trách
Kiều “ khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” là quá đáng, có thể chưa hiểu hết tâm
sinh lý con người(?). Còn khi xảy ra biến cố tại nhà Vương Ngoại, Kiều đớn đau
vật vã, Vân có đi ngủ, nhưng khi thức dậy Vân vẫn “ghé đến ân cần hỏi han” chị Kiều,
và cũng hiểu rằng “Một nhà để chị riêng oan một mình”; Vân đi ngủ đâu phải trơ
lì mà là làm chủ được cảm xúc, có thức cũng chẳng giải quyết được vấn đề; vậy
mà Nguyễn Huy Lượng (1750 - 1808) chì chiết: “ Cha phải tù, chị bị bán mà chỉ mải
ngủ…” oan cho Vân quá(?).
Hơn 2 thế kỷ nay nếu tính từ năm 1820 Truyện Kiều được phổ
biến rông rãi, không biết bao nhiêu giấy mực xót thương cho thân phận nàng Kiều;
trong khi đó, Thuý Vân, cũng là một giai nhân tuyệt sắc, cũng hy sinh đời mình,
làm vợ Kim Trọng, cứu lấy nhà Vương Ngoại thì chẳng một ai mảy may nhắc tới. Đời
quá bất công! Nhưng Trời có mắt, trong cõi mênh mông này, với vô lượng kiếp; sau
188 năm, (tính đến năm 2008), Thuý Vân cũng tìm được một người ghi lại những nỗi
niềm thầm kín khi hai chị em gặp lại sau mười lăm năm xa cách.
Chuyên thế này: Sau mấy
ngày vui đoàn tụ, “mừng mừng tủi tủi”, Vân- Kiều, mới có thời gian ngồi lại bên
nhau. Kiều cám ơn Vân đã thay mặt chị “nâng khăn sửa túi” cho chàng Kim ; tiếp là
kể những “đoạn trường” mà mình trải qua. Thấu hiểu, thương chị, Vân nước mắt ngắn
dài cùng chị. Đến lượt, Vân nức nở, vừa nói vừa khóc: chị biết không, mười lăm
năm trước, cái câu “ Tình trong như đã,
mặt ngoài còn e” là của chị, em không một chút tình ý gì với chàng ấy. Vì
thương chị và làm tròn chữ hiếu với cha mẹ, nên em chấp nhận “phận thừa”, “lấy
người yêu chị làm chồng” và đớn đau nhất đời em trong đêm tân hôn ngày ấy, vì
không yêu nên em đã tự lừa dối chính mình để đôi bên được xuôi bườm thuận gió “
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim” và từ đó “ Đời em thể thắt một vòng
oan khiên”, đêm đêm “đồng sàng dị mộng”, và trong mười lăm năm ấy, con đò xuân
xanh của em đón nhận những mây mưa lạc lỏng ơ thờ của chàng Kim. Cũng may, em
chẳng có tình yêu gì, nếu không, làm sao em sống nổi với một người tạm gọi là
chồng nhưng nằm với em mà luôn nghĩ về chị cả trong mơ lẫn đời thực “ Khi ăn ở
lúc ra vào/ Càng âu duyên mới càng đào tình xưa”, “ Dường như trên nóc dưới thềm/
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng/ Bởi lòng tạc đá ghi vàng/ Tưởng nàng
nên lại thấy nàng về đây”. Trong đêm khuya thanh vắng, Vân gào lên: ngày xưa chị
khóc Đạm Tiên, còn em rà ruột chị càng dửng dưng ? Sao chị ngồi yên vậy? Chị
nói một điều chi đi chớ? Kiều không nói được lời nào chỉ khóc và khóc. Vân lại
so bì tiếp, như ngày kia, chị nói, tổng kết đời chị có cả thảy 5 đời chồng ( Mã
Giám Sinh, Thúc Sinh, Bạc Hạnh, Từ Hải, Thổ Quan), nếu nay, chị đồng lòng nối lại
duyên xưa với Kim Trọng nữa thì vị chi là sáu đúng không? Chị còn nói, trong
sáu người đàn ông đó, chị chỉ yêu có ba người: chàng Kim, Thúc Sinh và Từ Hải.
Uống thêm ngụm nước trà Long Tỉnh, Vân có phần xuống giọng (như có điều cảm
thông): Tuy “ Con đò đời chị về không”, nhưng, đắng cay ngọt bùi trong tình yêu
chị đều nếm trải, còn “em chưa được thế bao giờ” mà phải “ Ngồi ru giọt máu tượng
hình chị trao” chị có hiểu không? Hiểu không? …Vân chợt nghĩ, mình nói với chị
hơi quá lời. Vân ôm chị vào lòng và thủ thỉ: “ Là em nghĩ vậy thôi, Kiều/ Sánh
sao đời chị bao điều bão giông” Rồi, hai chị em ôm nhau khóc. Vân than thở: Cái
vòng oan khiên “ tam tòng tứ đức” của Nho giáo, đã làm khổ hai chị em mình và
anh Kim Trọng; chị đã tan nát đời hoa, còn em xót xa thân phận! Vân lại gào lên
đau đớn “Kiều ơi! Em đợi kiếp nào để yêu?”…
Nữ nhà thơ Trương Nam Hương (sn:1963), đã chép lại câu chuyện
này và lấy tên: Tâm sự nàng Thuý Vân vào năm 2008 như sau:
Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim
Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ khuất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu
Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị bao điều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường
Chị nhiều hờn giận yêu thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim
Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu./.
Nguyễn Du có biết “tâm sự” này
không? Thiết nghĩ rằng có, một người thông tuệ, giàu lòng nhân ái như Tiên Điền
không thể không biết, nhưng vì đồ đệ của Nho gia, không dám “phạm huý” nên đành lơ
đi cái quyền Yêu, quyền được làm vợ thật sự của Vân.
Hồ Xuân Hương (1772-1822), người
cùng thời với Nguyễn Du, đã cố đạp phá những cấm kỵ, ràng buộc vô lý này như thế
nào qua thơ ca chúng ta đã rõ. “ Mấp mô số phận vuông tròn/ Đất không thể nhốt
linh hồn đòi yêu”, câu thơ ấn tượng, khẳng định TÌNH YÊU là thiêng liêng và bất
khả xâm phạm của mỗi con người.Thế mà Vân đành chôn dấu nỗi niềm khát khao hạnh
phúc, cuối cùng chỉ biết kêu lên “Kiều ơi! Em đợi kiếp nào để yêu?”, Kiều ơi!
hay Trời ơi! Cũng vậy. Tiếng kêu như oán như oan, âm đau còn vọng tới giờ Vân
ơi!
P/s: Bài thơ vỏn vẹn 12 cặp lục
bát, theo đúng âm điệu Truyện Kiều, tác giả mượn miệng Thuý Vân, nói giúp những
nỗi niềm thầm kín, những khao khát yêu đương, những bất công, ràng buộc…,vô lý
của xã hội trọng nam khi nữ đương thời. Có thể xem đây là phụ lục của Truyện Kiều
(?). Những ai yêu mến Kiều không nên bỏ qua và cũng đừng đay nghiến Thuý Vân mà
tội.
Điện Bàn, 8/2025.
(Ảnh trên net, xin lượng thứ)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét