Ở đời, được vua thua giặc, âu cũng lẽ thường tình! Đã là trượng phu, phù cương thường là chuyện đương nhiên. Nhưng, “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, một ngày kia chí lớn không thành, phải luân lạc tha phương, có chi phải nói nhiều! Dù biết vậy, nhưng nơi đất khách quê người, thân phận “một thời oanh liệt nay còn đâu ( ?)”, khi rượu đã mềm môi, nhớ về cố quận xa xăm, thấy mây nước một màu sương; những việc ta làm, ai là người thấu hiểu(?) lại đây, cùng ta cạn một chén nồng. Đó là nội dung trong “ Nam phương ca khúc” mà Nguyễn Bá Trác (1881-1945) đã nghe người bạn Tàu của mình hát trong một cuộc rượu và chép lại trong chương mười, cuốn Hạn Mạn Du Ký của ông, khi lưu lạc bên Trung Hoa (1912) do phong trào Đông Du sụp đổ. Đồng cảm với thân phận mình lúc đó, sau này, ông đã chuyển ngữ và lấy tên bài thơ Hồ Trường nổi tiếng. Phải nói ca từ trong nguyên tác Phương nam ca khúc đậm màu Lương Sơn Bạc; khi thành Hồ Trường, vẫn còn nguyên khí khái của người anh hùng lỡ vận, tuy nhiên, Hồ Trường chỉ ngang mức bi ca thôi chưa thành khúc ca bi tráng được bởi lẽ, ông dịch câu “ Dư trường trịch hướng/ đông, tây, nam, bắc” là RÓT về phương đông/tây, nam, bắc; sao nghe nhẹ nhàng yếu đuối quá; đúng phải dịch là NÉM/ quăng, mới mang hết thông điệp của nguyên tác. Ta ném cái gì? Ta ném niềm kiêu hãnh. Ta ném cái “sinh bất phùng thời”. Ta ném cái thời cuộc. Ta ném cái bàn cờ thế sự. Ta ném cái huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt… Ném như thế sóng biển đông mới cuồng- lạn, trời phương tây nước mới ngập tràn, gió phương bắc mới thổi tung đá tảng, đất phương nam mới mờ mịt khói sương. Thử hỏi RÓT thì nói được gì? Một điểm nữa, ông cố tình không dịch câu “ Thiên địa vũ trụ hỗn tương vong” (Trời đất dọc ngang đều mất hết); trời đất mất hay quê hương làng mạc mất, mới ra cái nông nỗi này chứ. Cái đau buồn nhất để người lỡ vận mượn ly rượu giải sầu thì không nói đến(?).
Theo tra cứu, ông dịch bài thơ này và đăng trên Nam Phong tạp chí đầu năm 1920. Kẻ hậu sinh không trách ông sao
không theo Cộng Sản mà buồn vì ông đi với nhà Nguyễn, thoả hiệp với Pháp. Giá như ngày ấy, sau Đông Du giải tán, ông về quê làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam dạy học, để “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” thì hay biết mấy! Và có lẽ ông không dùng từ RÓT cho câu ca trên, “văn là người” mà! Những ngày này, tôi biết nhiều người ngâm/hát Hồ Trường lắm. Muốn Hồ Trường thành khúc ca bi tráng của người thua cuộc hãy hát: Hồ trường! hồ trường! ta biết NÉM về đâu?
không theo Cộng Sản mà buồn vì ông đi với nhà Nguyễn, thoả hiệp với Pháp. Giá như ngày ấy, sau Đông Du giải tán, ông về quê làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam dạy học, để “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” thì hay biết mấy! Và có lẽ ông không dùng từ RÓT cho câu ca trên, “văn là người” mà! Những ngày này, tôi biết nhiều người ngâm/hát Hồ Trường lắm. Muốn Hồ Trường thành khúc ca bi tráng của người thua cuộc hãy hát: Hồ trường! hồ trường! ta biết NÉM về đâu?
-----------------------------------------------------------
Hồ trường
Trượng phu (đã) không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,
Sao lại tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương?
Trời Nam nghìn dặm thẳm; mây nước một màu sương.
Học không thành, công chẳng lập, Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi: Trời đất mang mang, ai là tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng-lạn.
Rót về Tây phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa chan;
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương.
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say?
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.
Nào ai tỉnh , nào ai say?
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét