15/6/14

Thư của Gs Hoàng Xuân Hãn gởi Tướng Giáp
(Theo Quechoa)

Sau đây là bc thư cui cùng ca Giáo sư Hoàng Xuân Hãn gi Võ Nguyên Giáp. Bc thư do chính Gs Hoàng Xuân Hãn mang tay đến Tòa Đi S Vit Nam ti Paris, nh chuyn. Trên đường v nhà,  ông đã trượt chân ngã; Vào nhà thương ít hôm sau thì mt. Là thư riêng nhưng ông gi gm nhiu s quan tâm đến vn nước và quan đim gi nước. Xét thy có nhiu ni dung vn còn tính thi s, nht là giai đon hin nay, khi Trung Quc đang gây hn bin Đông, chúng tôi đăng li toàn văn thư này đ bn đc tham kho và qua đó hiu thêm tâm s ca bc trí thc chân chính.


PARIS ngày m
ng 2 tháng Giêng năm Bính Tý
Gs Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)


Kính g
ởi anh VĂN
Th
ưa ANH

Đ
i vi ANH đã nhm trng-trách trong nước, nhng k đt li đến ANH, t dùng nhng tiếng xưng-hô cc long- trng. Vy tôi xin Anh th li đã gi li xưng kín-đáo thân- mt trong bui gian-nan đ cùng nhau mng năm mi và chúc Anh vn mnh-kho đ trường th và ch-giáo cho con em. Chúng ta là nhng k ti-nhc cho nước khi tr, mà may-mn hơn nhiu bn, còn sng đến ngày nay, nhn thy đt nước thng-nht đc-lp. Nhưng li s rng lp tr, hin nay là sinh-lc ca nước, s chóng quên ti nhc xưa và công lao nhng người như các Anh.

Tôi đã có lúc bi
n-lun v điu khác bit gia s thng ngoi-xâm và s gii-phóng đt nước. Nước ta ch có hai cuc gii-phóng mà thôi: thi 1416-1427 vi Lê Li cùng Nguyn Trãi, và thi 1945-1975 vi Bác H cùng các Anh. T nhiên c hai mt phi nh gn-bó gia mưu-lược lãnh-đo và kiên-cường nhân-dân. Khi ngoi-xâm thì nhân-dân ai cũng căm-tc và lo-s cho tương-lai; còn trong cuc gii-phóng thì đch đã chung vi nhân-dân lâu trong nước, ri có th dùng quyn-li đ chia r và gim tinh-thn nhân-dân. Vì vy, cái cn-thiết nht trong cuc gii-phóng là cái ĐC ca nhng người lãnh-đo, cái Đc đ cho đch không tìm cách mua-chuc mình và làm gương cho nhân-dân gi lòng yêu nước.

Chính ngày nay, đ
c-tính y rt cn đi vi nhng người cm trng-trách. Chc rng các Anh vân lưu-tâm v đim y. Nhưng nhân-dân ch quên công-lao nhng k kia. Điu th hai tôi s là s tư-li ngày nay làm gim thế-khí ca cán-b đi vi người ngoài, h mang tin vào; có k tưởng người mình vn "s" h như xưa, cho nên h tìm cách lung-lc. Ví d töi được nghe nói rng có công-ti ln ngoài đu-tư đã không mun, như ta tưởng, phái sang nước ta làm đi-din, nhng người gc Vit mà h có, vì nhiu duyên-c, nht là h s mt "oai" v người Vit.

N
ước ta nghèo ; mi đc-lp và thng-nht. Vy s bo-th đt-nước rt khó. Nước li có nhiu dân-tc thiu-s, tuy t-l nh, nhưng nhng vùng kinh-tế quan trng mé Bc và và mé Tây, và c ti trung-châu như Chàm và Khme khrom. Gương ngoi-bang xui-khiến hay giúp-rp không thiếu: Tchechene, Đông-Âu, Tây-Á. Phi-Châu. Tôi nghĩ rng phi tôn-trng và ng-dng văn-hoá đi-phương và coi đó là văn-hoá Vit-nam, đng-hoá chóng v trình-đ kiến-thc và trà-trn dân-tc trong lúc tuyn-chn cán-b. Nước Pháp đã gii-quyết được vn-đ Bretons, Auvergnats, Alsaciens, Basques v.v. mà vn-đ Irland Anh vn tn-ti. Vn-đ mt b và hi-phn thì nan-gii, nhưng phi đa vào chính-sách ngoi-giao đi vi mt ti-cung-quc láng-ging. Nhưng du thế nào thì mt tiu-hm-đi rt cn, ít ra thì cũng phi gi an-toàn khu du-lch vnh H-long. Đi vi Lào thì ch quên rng cui đi Thuc Pháp, Lào ch gm vùng Nam-Chưởng và Vn-tượng; s an-toàn đt Vit v mt Tây dã nh s y. Đi vi Khmer thì chc các Anh đã biết đó là l h ca nước ta đi Tây-Phương. Phi làm sao cho s tuyên-truyn ca h rng ta tiếp-tc chiếm ln h là mo chia r đ ln-áp đt chung.

V
mt kinh-tế, s m ca cho ngoi-quc đu-tư là mt s dĩ-nhiên đ dân mình có vic làm, hc kĩ-thut, hc qun-lí, kiến-thiết h-tng cơ-s, nâng dn đi sng, và nh đó báo-đáp ít nhiu công-lao lãnh-đo và nhân-dân. Nhưng các Anh cũng đng-ý vi tôi thà chu thit-thòi chút ít bây gi, ch không đ n ln lâu dài v sau cho con cháu, đến mc không bao gi tr hết lãi.

Cu
i cùng, tôi mun nói qua v vn-đ bom ht-nhân. Pháp va tuyên-b ngng th, Trung-quc vn thí-nghim và làm. Nước ta không th có; nhưng phi nghĩ đến lúc bt ng có đch-th ly nó đ đe-do mình thì làm sao? Đây không phi là mt gi-thuyết suông. Trung-quc hin nay còn đe-do Đài-loan nếu x ny tưởng da vào Hoa-kì mà t thái-đ li-khai. Nếu lc-đa ly bom ht-nhân ra đe-do, Hoa-kì có can-thip vào ni-tr nước khác không? Ngoi-giao ta t có lúc phi chn mt nước ln có bom ht-nhân mà Trung-quc s, đ tr-ngi ý-đ đe-do ca đch.

Trên đây ch
là my li tm-thường tôi xin góp làm vui câu chuyn đu năm vi ANH. Xin Anh đng cười là nhng li vô-trách-nhim. Nhân ngày tết, töi xin chúc tết ANH và c nước; và xin gi bài khai-bút năm nay đ biu-l lòng riêng. Rng:

Tám ch
c may ri sp chín mươi
S
c chng thêm đui tính thêm lui
S
nhà bn cũ ôn không thn
V
n nước tình sâu mng s tươi
Văn ng
thi xưa tìm kiếm gc
Tinh hoa thu
mi gng đua người
Tu
i cao nhưng chí còn trai tr
M
t đc tay biên ming vn cười.
(Trên đây tôi dùng năm v
n trong bài " Cm ơn mng th tám mươi " làm đã 9 năm ri:)

Tu
i-tác nay đà chn tám muơi
Đ
i ta ngm li lm khóc cười
Th
ương tâm bn bn binh đao thm
M
ng m nhiu phen hu vn tươi
B
t nước hư danh lòng chng bn
V
n nhà c gi chí không lui
Tri âm ch
ng l so già tr
Xin dãi lòng son c
m t Người

Kính chúc ANH và gia-quy
ến trong năm ny mi s may-mn tt-lành.

 HOÀNG-XUÂN-HãN



13/6/14

Cuc chiến không cân sc gia hc gi Vit Nam và                Trung Quc
Đoan Trang

Bài viết dưới đây ca tôi, “Cuc chiến không cân sc gia hc gi Vit Nam và Trung Quc”, được đăng ti trên Tun Vit Nam vào ngày 16/3/2009, mt ngày trước cuc hi tho quc gia đu tiên v tranh chp ch quyn trên Bin Đông.


Hơn 5 năm đã trôi qua. “Cuc chiến” vn không cân sc. S xut hin nhng gương mt mi, nhng nghiên cu mi bên phía Vit Nam, vn hoàn toàn là các n lc cá nhân ca nhng người Vit còn quan tâm đến ch quyn đt nước. 5 năm qua, gii truyn thông va viết bài va nghe ngóng, đoán ý lãnh đo, thy “bt đèn xanh” thì dn ti, thy “không n” thì im bt. Dư lun viên vn canh tng din đàn, tng trang FB, blog chính tr, hi h lao vào đnh hướng mi khi thy có ý kiến nào có v bt li cho chính quyn. Thnh thong, li thy mt đng chí cán b cao cp nào đy, kiu như Đi tá-PGS-TS-NGƯT Trn Đăng Thanh, được mi đi “nói chuyn chính tr” ti nhng “Đng y khi, lãnh đo Đng, Tuyên giáo, Công tác chính tr, Qun lý sinh viên, Đoàn, Hi thanh niên các trường Đi hc-Cao đng Hà Ni” v Bin Đông và quan h Vit Nam-Trung Quc, hun th rng “ta” thế này, “bn” thế kia

Đ ri ti hôm nay thì báo chí được bt đèn xanh, phng vn, viết bài, đưa tin rõ náo nhit, được t cáo Trung Quc “lp lun vô lý”, “bt nht”, “ly tht đè người”, “vu cáo” cái l cái chai… Th nào cũng có đng chí cán b nào đó đã và đang chém tay vào không khí mà nói rng “ta làm truyn thông chưa đ mnh cho thế gii biết chính nghĩa ca ta”, ri thì “cn đ ngh đy mnh truyn thông bng tiếng Anh ra cng đng quc tế”, v.v.

Đúng là đi theo đường li ca Đng thì đến con rn cũng phi gãy xương sng.

Trong khi đó, bao nhiêu năm qua, có nhiu hc gi, nhà khoa hc, trong và ngoài nước, có hoc không có chuyên môn liên quan, vn thm lng nghiên cu v Bin Đông, vượt qua nhng khó khăn, cc nhc v điu kin vt cht và tinh thn, vượt qua s dò xét, nghi ng ca các đng chí an ninh ri vic, vượt qua c muôn vàn c chế đi thường. Tt c đu đã lao vào nghiên cu, lng l và âm thm, ch vi mc đích “vì ch quyn ca Vit Nam”, “vì công lý và hòa bình trên Bin Đông”… Không được mt xu tr cp ca Nhà nước (tt nhiên ri), không được hi mt li, không được đếm xa đến trong mi s kin ngoi giao, mi quyết đnh ngoi giao; không nhng thế còn thường xuyên b an ninh hch sách, quy ri.

Hi ai mi đã và đang liên tc li dng lòng yêu nước ca h, ca người dân Vit Nam?

CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC GIỮA HỌC GIẢ VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam. Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự. Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc "chiếm sóng"

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học - tại một số nước, bậc lương và số lần tăng lương của giáo sư tỷ lệ thuận với số bài viết khoa học được đăng ở tạp chí đầu ngành.
Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ. Một nhà khoa học trẻ Việt Nam từng đặt vấn đề: "Giả sử 10-20 năm nữa, có nhà nghiên cứu phương Tây muốn tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với Hoàng Sa - Trường Sa: Cái mà ông ta tìm thấy sẽ là hàng chục bài viết của học giả Trung Quốc trên các tạp chí quốc tế nhằm chứng minh Hoàng Sa - Trường Sa là của họ. Lúc đó, ông ta có muốn khách quan khoa học cũng khó. Tích tiểu thành đại, hàng loạt bài viết như vậy sẽ làm cán cân sức mạnh nghiêng thêm về phía Trung Quốc, gây ảnh hưởng rất bất lợi cho Việt Nam".
Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - chừng 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp, tới mức gần như “lưu hành nội bộ”.

Việt Nam yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về Hoàng Sa - Trường Sa, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)... Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa (Lưu Văn Lợi, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, Nhà xuất bản Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít. Đa số là "tài liệu tham khảo nội bộ" hoặc cũng gần như "lưu hành nội bộ" bởi không được quảng bá và phát hành rộng.

Gần đây, Nhà xuất bản Tri thức bắt đầu tham gia giới thiệu rộng rãi tới công chúng các cuốn sách nghiên cứu về chủ quyền biển, với mục tiêu giới thiệu được khoảng 5 đầu sách/năm. Tuy nhiên, theo ông Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản, khó khăn lớn nhất là nguồn kết quả nghiên cứu của giới học giả Việt Nam còn hạn chế.

Hiện tại, Việt Nam chỉ có ba cơ quan nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thức về lãnh hải và luật biển, là Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo. Đếm số lượng các nhà nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, tính cả người đã mất, thì “vét” trong cả nước được gần một chục người.

Còn Trung Quốc đã có hàng chục cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tranh chấp lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa từ hơn nửa thế kỷ qua. Ít nhất, có thể kể tới trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường đại học Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn, hoặc trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, v.v…

Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học gia Việt Nam càng yếu ớt hơn.
Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, Tiến sĩ Từ Đặng Minh Thu (Đại học Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng. Tuy nhiên, không rõ vì lý do gì mà các công trình như vậy lại chưa được phổ biến chính thức tại Việt Nam

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí. Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.
Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về Hoàng Sa - Trường Sa và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về Hoàng Sa - Trường Sa hay chủ quyền đất nước. Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao. (Các tuyên bố ngoại giao theo thông lệ này lại không kéo theo việc công bố một bằng chứng cụ thể nào, khiến cho người nghe ngay cả khi muốn tham gia vào một nỗ lực chung để xác lập chủ quyền cho Hoàng Sa - Trường Sa cũng bớt phần tự tin).

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước. Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.


6/6/14

Quê Choa: Góp phần tìm hiểu sự thật về giáo sư Nguyễn Lân

Quê Choa: Góp phần tìm hiểu sự thật về giáo sư Nguyễn Lân: Lê Mạnh Chiến lược thuật và khảo chứng NQL: Chuyện cụ Nguyễn Lân cũng mệt quá, thật tình không muốn đăng. Nhưng nghĩ lại nếu cả nể...