13/11/14

S Ra Đi Ca Ch Quc Ng
Nguy
n Tường Bách


Lisboa - B
Đào Nha

B
Đào Nha là dân tc ca nhng người đi bin. Hơn thế na, t xưa, h là nhng người chu b x đi tha hường. Lisboa là cng bin thiên nhiên duy nht ca bán đo Iberia, t trước công nguyên đã là mt trung tâm chính tr và kinh tế. Lisboa nm ngay trên ca bin, hòa nước ngt ca sông Tejo vào nước mn ca Đi Tây Dương, mênh mông mt màu nước, khơi gi lòng vin du ca mt dân tc sn sàng lên đường. Thc vy, k t thế k th 15, khi tài đi bin ca người B Đào Nha lên đến đnh cao, quc gia này bành trướng thành cường quc s mt Châu Âu, chiếm lĩnh nhiu thuc đa Brazil, Châu Phi, -rp, n Đ và Trung Quc.

Năm 1511 thuy
n nhân B Đào Nha bt đu nhm đến Trung Quc và Nht Bn. H vòng t min nam n Đ, đi đường bin dc theo min Trung Vit Nam đ lên đo Macau.



Nhà truy
n giáo đến vi cng đng bng thuyn Vit Nam xưa

H
n h đã dng chân ti Hi An đ buôn bán và tiếp tế lương thc, nên năm 1524 h dng mt tm bia đá cù lao Chàm. Song song, các nhà truyn giáo ln lượt đến Nht Bn, Trung Quc và Vit Nam. Trong nhng năm cui ca thế k th 16 các nhà truyn giáo B Đào Nha ca hai dòng thánh Francisco và Agustino đến Vit Nam, nhưng cui cùng b cuc.

Đ
u thế k th 17 các nhà truyn giáo B Đào Nha li đến VitNam mt ln na và ln này h thành công. Dòng Tên* chính thc được thành lp Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong gii giáo sĩ dòng Tên người B có mt nhân vt xut sc, đóng mt vai trò lch s trong nn văn hóa Vit Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đc bit rt gii tiếng Nht. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyn giáo và bt đu dch mt s văn bn ca Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, mt th ch Hán được bn đa hóa.Thế nhưng Pina nhn thy các nhà truyn giáo đng nghip có mt khó khăn trm trng , đó là h không sao hc được ch Nôm. Chàng linh mc tr tui Pina thy ch Nôm không th là phương tin giao lưu vi người bn x, ông nghĩ ra mt cách đơn gin. Ông th lng nghe người Vit phát âm ra sao ri dùng mu t la tinh đ din t âm tiết theo cách mà tiếng B Đào Nha thường làm. Đó là thi đim khai sinh ca ch quc ng chúng ta ngày nay. Theo li xác nhn ca chính Pina, k t năm 1622, ông đã xây dng mt h thng chuyn mu t la tinh cho hp vi thanh điu và li phát âm ca tiếng nói Viet Nam. Pina cũng son c mt tp văn phm thô sơ cho loi ch viết mi m này. Có l trên thế gii không có nơi nào có mt th ch viết được hình thành trong điu kin như thế.

Năm 1624 Francisco de Pina m
trường dy tiếng Vit cho các nhà truyn giáo khác. Trong s người đến hc vi ông có hai v quan trng, mt người đã ln tui là António de Fontes (1569 -?), sinh ti Lisboa. V kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh ti Avignon, Pháp.Hai v này lãnh hai trng trách, de Fontes là tr ct cho giáo x truyn giáo Đàng Trong, còn de Rhodes s ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thi kỳ ca Chúa Trnh Tráng. Mt ngày n trong thang 12 năm 1625, mt chiếc tàu ca B Đào Nha b neo vnh Đà Nng, Pina lên tàu đ mang hàng hóa vào b. Khi đến b chng may thuyn chìm, Pina chết ti đó, ông ch sng được 40 tui.

Sau cái ch
ết bi thm ca Pina, các nhà truyn giáo B Đào Nha vn tiếp tc xây dng ch quc ng mà hai nhân vt có công nht chính là hai người B, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì b chúa Trnh Tráng trc xut năm 1630, phi đi Macau. Mười năm sau, năm1640 de Rhodes tr li Đàng Trong và đến năm 1645 b Chúa Nguyn vĩnh vin trc xut khi Vit Nam. De Rhodes tr v La Mã và năm 1651 ông cho xut bn tp t đin Vit-B Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).

Trong các đ
i sau, nhiu người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng to ch quc ng nhưng thc ra đó là công ca các nhà truyn giáo B Đào Nha, mà người đu tiên phi là Francisco de Pina.

M
t tình c ca lch s đã đưa các v giáo sĩ B Đào Nha phát minh ra mt loi ch viết cho c mt dân tc xa l, trong đó h buc phi dùng mu t và âm tiết ca ngôn ng mình đ din t mt tiếng nói khác, vn mang đy thanh âm trm bng như tiếng chim. Mc đích ban đu ca ch quc ng là đ cho các nhà truyn giáo nói được tiếng Vit và giao tiếp vi cng đng tôn giáo ca mình bng ch viết. V sau, khi các nhà cai tr người Pháp đến Vit Nam, h cũng không kham ni ch Hán ln ch Nôm. Gii pháp thun tin ca người Pháp là buc mi người Vit Nam phi s dng ch quc ng và có l đó cũng là lý do ti sao vai trò ca Alexandre de Rhodes được nêu bt.

T
1930 ch quc ng tr thành ch viết chính thc ca người Vit.

Chú thích: * Bài vi
ết trích t chương Nhng Người Đi Bin, trong tp bút ký "Đường Xa Nng Mi" ca TS Nguyn Tường Bách.

¤¤¤

S
ra đi ca ch quc ng 
CH
QUC NG

Nhân k
nim 85 năm bãi b ch Nho (1919) và

80 năm (1924) quy
ết đnh đưa ch Quc ng vào dy ti cp tiu hc Vit Nam



Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) Nguy
n Văn Vĩnh (1882 - 1936)

Ch
Hán tng được dùng Vit Nam trong vòng mt ngàn năm mãi đến tn đu thế k th 20.

Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 t
i Avignon, Pháp; mt năm 1660 ti Ispahan, Ba Tư) đã sang Vit Nam truyn đo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rt ln trong vic La-mã hoá tiếng Vit (nhiu tác gi gi là La-tinh hóa. Thc ra mu t ch cái tiếng Vit hin nay là mu t ch Roman ch không phi là ch La-tinh).

K
ế tc công trình ca nhng người đi trước là các tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người B Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong vic La-mã hóa tiếng Vit, Alexandre de Rhodes đã xut bn Bài ging giáo lý Tám ngày đu tiên bng tiếng Vit và cun t đin Vit - La - B đu tiên vào năm 1651 ti Rome.

*** H
thng ch viết tiếng Vit dùng ch cái La-mã này được chúng ta ngày nay gi là ch quc ng (ch viết ca quc gia)

Nguy
n Văn Vĩnh sinh năm 1882 ti Hà Ni cái năm thành Hà Ni tht th vào tay quân Pháp do đi tá Henri Rivière ch huy. Tng đc Hà Ni Hoàng Diu tht c t vn. Gia đình Nguyn Văn Vĩnh nghèo nên không có tin cho con cái đi hc. Lên tám tui, cu Vĩnh đã phi đi làm đ kiếm sng. Công vic ca cu lúc đó là làm thng nh kéo qut đ làm mát cho mt lp đào to thông ngôn do người Pháp m đình Yên ph - Hà Ni.

V
a kéo qut, cu va nghe lm bài ging. Cu ghi nh mi th rt nhanh và còn tr li được các câu hi ca thày giáo trong khi các cu con nhà giàu trong lp còn đương lúng túng.

Th
y giáo người Pháp thy vy bèn nói vi ông hiu trưởng giúp tin cho cu vào hc chính thc.

Năm 14 tu
i Nguyn Văn Vĩnh đ đu khóa hc và tr thành mt thông dch viên xut sc.

Sau đó ông đ
ược b làm tr lý cho công s Pháp tnh Bc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tui, Nguyn Văn Vĩnh được Pháp gi sang d trin lãm ti Marseilles. Ti đây, ông được tiếp cn vi k ngh in n và báo chí. Ông còn là người VitNam đu tiên gia nhp hi Nhân quyn Pháp. Tr v Vit Nam, Nguyn Văn Vĩnh t b nghip quan chc và bt đu làm báo t do.

Năm 1907 ông m
nhà in đu tiên Hà Ni và xut bn t Đăng C Tùng Báo - t báo đu tiên bng ch quc ng Bc Kỳ.

Năm 1913 ông xu
t bn t Đông dương Tp chí đ dy dân Vit viết văn bng quc ng.

Ông là ng
ười đu tiên dch ra ch quc ng các tác phm ca các đi văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đu tiên dch Truyn Kiu sang tiếng Pháp.

B
n dch Kiu ca ông Vĩnh rt đc sc, vì ông không ch dch c câu mà còn dch nghĩa tng ch và k rõ các tích c gn vi nghĩa đó - mt điu ch có nhng ai am hiu sâu sc văn chương Vit Nam (bng ch Nôm),Trung Hoa (bng ch Nho), và Pháp mi có th làm được.

S
c gng và sc làm vic phi thường ca ông Vĩnh đã góp phn rt quan trng trong vic truyn bá kiến thc và văn hoá phương Tây trong dân Vit, và đy xã hi Vit Nam đi đến ch dn dn chp nhn ch quc ng.

Năm 1915 vua Duy Tân ra ch
d bãi b các khoa thi (Hương - Hi - Đình) Bc Kỳ.

Năm 1918 vua Kh
i Đnh ra ch d bãi b các khoa thi này Trung Kỳ và đến

năm 1919 bãi b
hoàn toàn các trường dy ch Nho, thay thế bng h thng trường Pháp - Vit.

Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quy
n Đông Dương Merlin ký quyết đnh đưa ch Quc Ng vào dy ba năm đu cp tiu hc.

Nh
ư vy là, sau gn ba thế k k t khi cun t đin Vit – La - B ca Alexandre de Rhodes ra đi, người Vit Nam mi tht s đon tuyt vi ch viết ca Trung Hoa, chính thc chuyn sang dùng ch quc ng.

Đây qu
thc là mt cuc chuyn hóa vô cùng ln lao, trong đó ông Nguyn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò mt nhà văn hóa ln ca dân tc Vit Nam. Ông Nguyn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không th kiếm sng bng ngh báo ca mình. Ông là người luôn lên tiếng phn đi chính sách hà khc ca Pháp đi vi thuc đa, là người Vit Nam đu tiên và duy nht đã hai ln t chi huân chương Bc đu bi tinh ca chính ph Pháp ban tng, và cũng là người đã cùng vi bn người Pháp viết đơn gi chính quyn Đông Dương phn đi vic bt gi c Phan Chu Trinh.

Vì th
ế chính quyn thuc đa ca Pháp Đông Dương chng ưa gì ông. Tòa báo ca ông v n. Gia sn ca ông b tch biên. Ông b đi đào vàng Lào và mt đó năm 1936 vì st rét.

Ng
ười ta tìm thy xác ông nm trong mt chiếc thuyn đc mc trên mt dòng sông Sepole.

Trong tay ông lúc đó v
n còn nm cht mt cây bút và mt quyn s ghi chép: Ông đang viết d thiên ký s bng tiếng Pháp Mt tháng vi nhng người tìm vàng. Khi đoàn tàu ch chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh v đến ga Hàng C, hàng ngàn người dân Hà Ni đng ch trong mt s yên lng vô cùng trang nghiêm trước qung trường nhà ga đ đưa tin ông.

Con ng
ười bng tài năng và sc lao đng không biết mt mi ca Mình đã góp phn làm cho ch quc ng tr thành ch viết ca toàn dân Vit. ---Tôi đã v bc tranh S ra đi ca ch quc ng- Cái chết siêu vit ca ông Nguyn Văn Vĩnh vi lòng ngưỡng m sâu sc đi vi hai vĩ nhân nói trên ca dân tc Vit Nam –

Alexandre de Rhodes và Nguy
n Văn Vĩnh.

L
i cm ơn:

Tác gi
bài viết này biết ơn thân sinh ca mình – nhà giáo Nguyn Đình Nam, người đu tiên k cho tác gi v cuc đi và s nghip ca c Nguyn Văn Vĩnh t khi tác gi còn là hc sinh tiu hc, khi sách giáo khoa chính thng còn gi Alexandre Rhodes là gián đip còn Nguyn Văn Vĩnh là bi bút ca Pháp.

Tác gi
xin chân thành cm ơn ông Nguyn Kỳ - con trai c Nguyn Văn Vĩnh, và ông Nguyên Lân Bình - cháu ni c Nguyn Văn Vĩnh vì nhng câu chuyn xúc đng v cuc sng và s nghip ca c Nguyn Văn Vĩnh cũng như ca gia tc c.

Tác gi
xin cm ơn thày Trí - cháu ngoi c Nguyn Văn Vĩnh , đng thi tng là thày dy toán ca tác gi khi tác gi là hc sinh trung hc.

10/11/14

Tony Buổi Sáng - Đời cua đời cáy

Tony Buổi Sáng
Chia sẻ bài viết này
Khi còn học ở HBS, có lần giáo sư đặt câu hỏi, theo bạn, doanh nhân là ai. Rất nhiều quan niệm khác nhau được đưa ra vì học viên đến từ nhiều nước khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau. Sau đó thì thầy mới đưa ra quan niệm các giáo sư trong trường, thành một quan điểm hay còn gọi là trường phái Harvard về doanh nhân. Nôm na là doanh nhân là người lãnh đạo, có thể làm chủ hay không phải làm chủ, nhưng phải là lãnh đạo doanh nghiệp hay tổ chức có lợi nhuận. Mục tiêu làm ăn là phải có lợi nhuận, nhưng doanh nhân phải lèo lái làm sao đó để không xung đột với đạo đức xã hội. Doanh nhân phải giải quyết sao cho sự phát triển của doanh nghiệp của mình không gây phương hại đến môi trường thiên nhiên. Doanh nhân phải làm từ thiện xuất phát từ tâm của mình, từ tình đồng loại chứ không phải vì nhu cầu marketing. Và cuối cùng là doanh nhân phải biết chia sẻ với thế hệ sau, về cả tiền bạc lẫn vốn sống, kiến thức nhằm tạo ra một thế hệ doanh nhân mới khi mình chết đi. Các quan niệm khác tuy có khác trường phái Harvard chút ít, song vẫn tựu trung các ý trên. Thành một chuẩn thế giới về doanh nhân.

Đỗ Lai Thúy - Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa

Đỗ Lai Thúy
Chia sẻ bài viết này
Trong thế kỷ XX, nếu lấy chính trị và văn hóa như là hai chiều kích đối lập nhau trong một khung lịch sử, thì con đường của người trí thức Việt Nam diễn ra theo các chuyển động rất phức tạp. Tuy vậy, có thể khái quát thành những xu hướng cơ bản sau: 1) từ chính trị sang văn hóa; 2) từ văn hóa sang chính trị; 3) từ văn hóa đến văn hóa; 4) vừa chính trị vừa văn hóa. Trong các xu hướng này, con đường từ chính trị sang văn hóa, tuy không được số đông hành cước, nhưng lại là con đường phát lộ nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam hiện đại, và có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành tầng lớp trí thức độc lập. Bởi vậy, suốt thế kỷ trước, người ta thường thấy một hiện tượng rất đáng lưu ý: một nhân vật đang mải mê hoạt động, sau một sự cố nào đó, liền từ giã sự nghiệp chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa. Phan Khôi là một trường hợp đầu tiên và tiêu biểu.

Học giả Phan Khôi
Phan Khôi (1887 - 1959) sinh ra trong một gia đình khoa bảng và chống Pháp. Thân sinh ông là Phan Trân, đỗ phó bảng năm 1891 dưới triều vua Thành Thái, làm quan đến tri phủ Diên Khánh, rồi vì bất hòa với viên công sứ Pháp ở Nha Trang, nên bỏ về hưu, khi chưa đầy 40 tuổi. Thân mẫu là Hoàng Thị Diệm, con gái Hoàng Diệu. Bà mất sớm, chỉ để lại hai con là Phan Khôi và cô Ba, vợ học giả Lê Dư, mẹ Hằng Phương nữ sĩ. Làng Bảo An quê ông thuộc Gò Nổi, một dải đất giữa hai nhánh, một của sông Thu Bồn và một của sông Vu Gia. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải, nổi tiếng với các mặt hàng lụa, tuýt-xi. Nghề buôn bán, do vậy, cũng rất phát đạt. Vải, lụa, đường cát từ Gò Nổi vươn xa đến tận Huế, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội. Bảo An, cũng như toàn tỉnh Quảng Nam, là quê hương của nhiều người hiển đạt. Nhưng, đây là một vùng đất mở với sự phát triển của thương mại và/qua các cừa sông, cảng biển, con đường duy nhất bấy giờ nối liền với thế giới Đông Á đang chuyển mình. Các thầy đồ Quảng, do vậy, sớm tiếp xúc với Tân thư, trở thành các nhà nho duy tân chống Pháp, như Trần Quý Cáp, Phan Thành Tài, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng...
Phan Khôi, con của đất ấy, con của người ấy, tự nhiên phải đi theo truyền thống ấy. Ông học chữ Hán với Trần Quý Cáp, rồi trường Huấn, trường Đốc. Kỳ sát hạch nào cũng đỗ đầu. Ông nổi tiếng là một sĩ tử thông minh đất Gò Nổi. Nhưng, năm 1906, khi vác lều chõng ra Huế thi Hương, Phan Khôi chỉ đỗ tú tài. Ông uất ức cho rằng quan trường chấm thi hồ đồ, thậm chí còn làm thơ đả kích. Xem lại bản nháp các bài thi, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đều đánh giá cao, và đoán rằng khoa sau ông sẽ đỗ cử nhân, tiến sĩ. Nhưng Phan Khôi đã quyết tâm từ bỏ con đường khoa cử. Đây là lần thứ nhất, trên hành trình tìm đường của mình, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống lâu đời của gia đình, quê hương, xứ sở.
Quyết bỏ thi chữ Hán, Phan Khôi quay sang học tiếng Pháp với Phan Thành Tài, một người bà con trong họ tộc. Đồng thời, ông tranh thủ dạy quốc ngữ và chữ Hán cho trường Diên Phong, do Hội buôn Diên Phong mở để làm trụ sở hợp pháp cho phong trào Duy tân Quảng Nam. Cuối 1906, Phan Khôi làm một việc "động trời" bấy giờ là cắt bỏ búi tóc, biểu tượng thiêng liêng của các nhà cựu học, và làm bài "Vè cúp tóc" để vận động người khác. Ban đầu thì trong nhà phản ứng, ngoài đường chế giễu, nhưng chẳng bao lâu đã thành một phong trào: "Bỏ cái ngu này/ Bỏ cái dại này/ Cho khôn cho mạnh/ Học theo người Tây". Năm 1907, Phan Khôi được phong trào Duy tân Quảng Nam gửi ra Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, vừa để tìm cách phát triển các hoạt động duy tân ở quê hương, vừa tranh thủ học thêm tiếng Pháp do Nguyễn Bá Học dạy. Ông còn sửa bài, viết bài cho Đăng cổ tùng báo, một tờ chữ Hán của trường. Công việc đang thuận lợi thì nhà cầm quyền Pháp đóng cửa Đông Kinh nghĩa thục và cấm Đăng cổ tùng báo. Phan Khôi chưa kịp quay về Quảng Nam thì bị bắt giải về quê. Lúc này, vụ "xin xâu" (chống sưu thuế) ở Quảng Nam bị đàn áp dã man. Trần Quý Cáp bị xử tử. Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện bị đi đày Côn Đảo. Phan Khôi cũng bị kết án 3 năm tù. Công cuộc vận động Duy tân bán công khai theo đường lối Phan Chu Trinh thế là bị dập tắt.
Ra tù, một mặt Phan Khôi lấy vợ, đẻ con để hoàn thành nghĩa vụ gia đình, mặt khác vẫn tham gia các vận động bí mật của Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu. Nhưng đến 1914, ông chấm dứt hẳn hoạt động này để đến năm 1916 ra Hà Nội lần hai, tìm con đường làm báo. Đầu tiên ông làm thư ký cho Công ty Vận tải Đường thủy của Bạch Thái Bưởi. Rồi nhận thấy đây không phải là đường đi của mình, Phan Khôi kiên quyết từ chối sự níu kéo của nhà tư sản dân tộc này, rời Hải Phòng lên Hà Nội. Ở đây, ông gặp Nguyễn Bá Trác, người cùng quê và/ là bạn học cũ. Ông này đang chuẩn bị vào Huế nhậm chức, nên giới thiệu Phan Khôi vào thế chân mình ở báo Nam Phong. Thấy đây là cơ hội để mình có điều kiện phát triển một hướng đi, Phan Khôi nhận lời. Ngoài việc viết bài, biên tập cho phần Hán văn do Nguyễn Bá Trác để lại, Phan Khôi còn phụ trách chuyên mục "Nam âm thi thoại" chuyên giới thiệu, bình luận thơ. Thế là từ đây, Phan Khôi đi hẳn vào con đường làm báo chuyên nghiệp. Như vậy, đây là lần thứ hai, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống nữa của gia đình, quê hương, xứ sở, để đi theo một truyền thống khác, mà có thể lúc này mới chỉ là một phản/ phi truyền thống. Đó là sự từ bỏ con đường hoạt động chính trị, cả phong trào Duy tân bán công khai của Phan Chu Trinh, lẫn sự vận động bí mật cho đường hướng đấu tranh vũ trang của Phan Bội Châu, để chuyển sang hoạt động văn hóa một cách công khai, hợp pháp. Với con đường cứu nước phi truyền thống này, Phan Khôi hẳn còn bị gia đình, bạn bè phản ứng dữ dội hơn lần trước, thậm chí còn bị các đồng chí cũ nghi là phản bội, nhất là tờ báo khởi nghiệp của ông lại là Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Nhưng, chính đây lại là bước quyết định của/ với Phan Khôi trong việc biến ông từ một nhà nho cổ điển, một nhà nho duy tân thành một nhà nho Tây học, một nhà văn hiện đại, đồng thời tạo ra một dấu mốc trên hành trình xây dựng văn hóa dân tộc, cũng như hình thành tầng lớp trí thức độc lập.
Con đường cứu nước phi truyền thống này có tiền đề từ Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871). Khi thực dân Pháp rập rình xâm chiếm Việt Nam, trước sức mạnh quân sự vượt trội của nó, triều đình Huế chia làm 2 phe: chủ chiến và chủ hòa. Tư tưởng chủ chiến dựa trên truyền thống ngàn đời "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", "quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách", "sát thân thành nhân". Tư tưởng chủ hòa mang tâm lý thất bại chủ nghĩa, sợ trách nhiệm, sợ mất quyền lợi, thực chất là đầu hàng. Chủ chiến và chủ hòa, tuy đối đầu với nhau quyết liệt như vậy, nhưng, xét cho cùng, chỉ là hai mặt đối lập của cùng một kiểu tư duy nhị nguyên, biện biệt: hoặc là đánh, hoặc là hòa, theo nguyên lý loại trừ. Nguyễn Trường Tộ, với cái nhìn nhất nguyên, đưa ra một tư duy khác. Một kiểu chủ hòa khác. Đó là hòa để chiến, trong hòa có chiến, trong chiến có hòa. Ông cho rằng muốn thắng được người Pháp ở trận cuối, thì trước mắt phải hòa với nó, thậm chí phải dựa vào nó, liên kết với nó, để tranh thủ thời gian xây dựng kinh tế, kỹ thuật, đào tạo nhân lực, phát triển thương mại, trang bị lại cho quân đội, xây dựng quan hệ ngoại giao đa phương với các tổ chức và các nước phương Tây khác. Nhưng, tư tưởng này quá mới, nên đình thần hoài nghi, phân vân, hoảng sợ: những kiến nghị của ông bị bỏ qua. Rồi khi chiến sự đến thì các cơ hội để thực thi chiến lược hòa để chiến không còn nữa, chỉ còn hoặc chiến hoặc hòa. Trong hoàn cảnh này, phe chủ chiến ban đầu thắng/ đa số tuyệt đối để rồi sau đó thua/ thiểu số tuyệt đối.
Sáu tỉnh Nam bộ, rồi toàn bộ đất nước bị mất, các phong trào Cần vương lần lượt bị thất bại, con đường cứu nước bằng bạo lực bị chìm xuống. Trong hoàn cảnh đó, Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898) chủ trương con đường cứu nước bằng văn hóa. Tạo ra cuộc đối thoại Đông Tây, Trương Vĩnh Ký muốn làm cho, một mặt, người Nam hiểu được người Pháp, văn hóa Pháp, mặt khác, người Pháp hiểu được nền văn hóa cổ truyền thâm sâu của Việt Nam. Đồng thời tranh thủ xây dựng một văn hóa Việt Nam hiện đại bằng sự kết hợp Đông Tây, Nam Pháp theo nguyên tắc "Đông học vi thể, Tây học vi dụng". Ở Nguyễn Trường Tộ, trong hoàn cảnh một xã hội không có xã hội, mà chỉ có nhà nước, thì đối tượng "cải cách" chính của ông là vua (dĩ nhiên phải qua một đám quan lại chóp bu), phương thức duy nhất của ông là điều trần. Còn ở Trương Vĩnh Ký thì ông đã có một công cụ mới là báo chí, để bước đầu xây dựng một xã hội dân sự. Đối tượng "cải cách" của ông, bởi vậy, là dân chúng, bao gồm các nhà nho duy tân, các điền chủ, nhà buôn, viên chức trong bộ máy chính quyền mới ở Nam bộ. Lấy báo chí làm phương tiện, Trương Vĩnh Ký xây dựng và phổ biến chữ quốc ngữ. Từ đó xây dựng văn xuôi báo chí, rồi văn xuôi nghệ thuật, cũng như nền học thuật của đất nước.
Từ đây, ở Việt Nam, tồn tại hai con đường cứu nước: 1) con đường bạo lực chính trị và 2) con đường phát triển văn hóa, một con đường chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Trong hai con đường này, thì bạo lực chính trị bao giờ cũng là một nét đậm, một nhịp mạnh. Cả hai tồn tại song song với nhau, vừa hỗ trợ nhau vừa đấu tranh với nhau, đôi khi thành những cặp đối lập nổi tiếng trong lịch sử như Phan Bội Châu - Phan Chu Trinh, dẫu rằng văn hóa của cụ Phan thứ hai, xét cho cùng, cũng nhắm đến mục đích chính trị. Bởi thế, đáng chú ý là, thỉnh thoảng lại có những người chuyển từ hoạt động chính trị sang hoạt động văn hóa, sau một "sự cố" nào đó khiến họ có một nhận thức mới. Phan Khôi không phải là một hiện tượng duy nhất, mà là một trường hợp đầu tiên tiêu biểu nhất. Sau này còn có những trường hợp khác nữa. Như Đào Duy Anh (1904 - 1988), bí thư Tân Việt cách mạng đảng, sau khi bị Pháp bắt giam vào cuối năm 1929, cũng từ bỏ hoạt động chính trị chuyển sang làm sử học, làm văn hóa. Hoặc gần đây hơn, Nguyễn Kiến Giang (1930 - 2013), sau vụ "nghị quyết 9" cũng trở thành một dịch giả, một nhà nghiên cứu văn hóa có nhiều đóng góp. Có điều đáng nói là bước chuyển của Đào Duy Anh, Nguyễn Kiến Giang đều do một "cú hích của Thượng đế", tức ít nhiều bị động, còn của Phan Khôi thì hoàn toàn chủ động.
Phan Khôi chủ động thực hiện bước chuyển này vì ông nhận thức được tầm quan trọng của dân trí cũng như vai trò của báo chí trong việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Bởi thế, làm báo, Phan Khôi chủ trương công khaiđộc lập và kiên quyết không dính líu đến chính trị. Hẳn cũng vì thế mà ông sớm rời khỏi tờ Nam phong của Phạm Quỳnh, dù tạp chí này bấy giờ làm rất tốt nhiệm vụ xây dựng một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học. Ông vào Sài Gòn để viết cho tờ Lục tỉnh tân văn, rồi lại trở ra Hà Nội viết cho Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu Thanh. Rồi lại vào Sài Gòn cộng tác với Thần chungĐông Pháp thời báo đồng thời gửi bài cho Đông Tây tuần báoVăn học tạp chí ở Hà Nội. Lúc này Phan Khôi đã trở thành một nhà báo nổi tiếng trong giới trí thức Sài Gòn. Bởi thế, ông được bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh) mời ra làm chủ bút tờ Phụ nữ tân văn do bà đứng tên sáng lập. Trang bìa tờ báo có in hình ba cô gái Bắc, Trung, Nam, biểu tượng cho nước Việt Nam thống nhất, dưới bức hình là hai câu thơ: "Phấn son tô điểm sơn hà/ Làm cho tỏ mặt đàn bà nước Nam". Nhưng Phụ nữ tân văn là tiếng nói không chỉ của/ về phụ nữ, mà còn của các tầng lớp xã hội khác. Năm 1934, tờ Phụ nữ tân văn bị cấm, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết Phụ nữ thời đàm, rồi lại vào Huế làm chủ bút báo Tràng An. Rồi tờ báo này cũng bị đóng cửa nốt. Năm 1936, Phan Khôi xin được giấy phép ra tờ Sông Hương. Suốt đời làm báo thuê, đây là lần đầu tiên ông có một tờ báo củamình. Nghĩa là ông có thể hoàn toàn chủ động từ việc đề ra cương lĩnh đến sắp xếp các mục trên trang báo, các bài viết. Ông huy động toàn bộ vốn liếng, vợ con vào làm việc cho tờ báo. Sông Hương nhanh chóng chinh phục được đông đảo bạn đọc thuộc các thành phần xã hội. Nhưng nó chỉ tồn tại được đến 1939 thì phải tự đóng cửa vì không đủ tài chính.
Phan Khôi làm báo trước hết để tiếp tục theo đuổi một cách công khai chủ trương khai dân trí thuở Duy tân. Dĩ nhiên, dân ở đây, trước hết là người có học, như tiêu ngữ trên tờ báo của ông "Ai có học phải đọc Sông Hương". Bằng ngòi bút của mình, Phan Khôi đã đấu tranh bền bỉ cho các quyền của người dân, nhất là quyền tự do, dân chủ. Quan trọng là các quyền này với Phan Khôi phải minh bạch, chính đáng. Có lẽ vì thế mà có dạo trên Sông Hương, Phan Khôi phản đối một số tờ báo khác làm đơn xin được tự do ngôn luận. Ông cho rằng đã xin thì không còn tự do nữa. Tự do ngôn luận phải là một quyền, nghĩa là được thừa nhận công khai, bằng luật pháp. Phan Khôi đề cao luật pháp, như một thành tựu của văn hóa phương Tây. Đề cao văn hóa phương Tây, Phan Khôi chống lại các thành kiến cổ hủ của văn hóa Đông Á trong đó có Nho giáo, đặc biệt là Tống nho. Ông phê phán kịch liệt quan niệm trinh tiết, lật ngược lại cái nhìn về Võ hậu, kêu gọi giải phóng phụ nữ ra khỏi đại gia đình phong kiến. Để xây dựng một văn hóa mới, hiện đại, Phan Khôi còn viết nhiều về lịch sử, văn học, Việt ngữ... Ở lĩnh vực nào hầu như ông cũng là người đi tiên phong, như mở đầu cho Thơ Mới bằng bài "Tình già", đặt viên gạch đầu tiên cho nghiên cứu Việt ngữ, đi trước Tự lực Văn đoàn về giải phóng phụ nữ... Có lẽ, vì tồn tại chủ yếu với tư cách là một nhà báo, nên Phan Khôi chỉ là người đặt gạch chứ chưa phải là người xây nhà. Nhưng, cũng với tư cách một nhà báo, Phan Khôi đã để lại một sự nghiệp viết đồ sộ, không chỉ ở nội dung viết, mà còn ở cách viết. Không giống các nhà báo khác, ông không chạy theo việc mô tả sự kiện, mà chỉ chú ý đến những vấn đề xã hội hoặc văn hóađằng sau sự kiện đó. Các bài báo của ông, bởi thế, đều có tính chất khám phá, tranh luận, phê phán ở chiều sâu học thuật. Mỗi bài báo của ông là một Essai thực sự. Một thể loại mở, giàu tính lý thuyết và tinh thần phê phán.
Như vậy, Sông Hương là đỉnh cao sự nghiệp văn học của Phan Khôi, đỉnh cao của sự độc đáo Phan Khôi cả ở tư duy, ngôn ngữ, lẫn cách thế: trình độ Hán ngữ, Pháp ngữ, Việt ngữ rất cao, sự sùng bái tư duy logic, lối ứng xử minh bạch và bộc trực. Một sự cuội kết lạ lùng, có một không hai, Đông Tây kim cổ. Có được như vậy, theo tôi, Phan Khôi đã phát huy đến tột cùng loại hình/ người văn hóa ở/ của ông: nhà nho Tây học. Xã hội Việt Nam cho đến bấy giờ, do sự phát triển gối tiếp chứ không phải nối tiếp, đồng tồn nhiều loại hình/ người văn hóa như nhà nho , nhà nho duy tân, nhà nhoTây học, trí thức Tây học nho hóa, trí thức Tây học. Nhà nho cũ thì đã hết thời. Nhà nho duy tân cũng chỉ tồn tại một vài tượng đài như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Trí thức Tây học nho hóa, mà tiêu biểu là Phạm Quỳnh thì từ 1932 đã bỏ Nam phong vào Huế làm thượng thư bộ Học. Trí thức Tây học thì còn đang trên đà phát triển. Chỉ còn nhà nho Tây học là đã đạt đến độ viên mãn. Nhất là Phan Khôi.
Nhà nho Tây học là một từ tổ gồm một danh từ nhà nho và một hình dung từ Tây học, trong đó nhà nho là chủ, còn Tây học là khách, mà khách là để nhận biết chủ. Thông thường hai yếu tố trái ngược nhau này sẽ tạo ra sự khắc chế, kìm hãm lẫn nhau, nhưng ở Phan Khôi, ngược lại, nhà nho và Tây học lại gắn kết với nhau và thúc đẩy nhau phát triển đến đỉnh điểm. Nhà nho đề cao tính, đề caophận vị, nên chỉ phát triển nhân cách,mặt xã hội của con người. Người có nhân cách là người làm tròn bổn phận xã hội của mình, người có đóng góp cho xã hội. Nhân cách, đặc biệt là nhân cách Nho giáo bịt kín mọi lối phát triển cá nhân, chỉ cho phép nhà nho tự thể hiện mình ở hai ngả là đạo đức và học vấn. Nhờ đó, nhiều người chẳng những đạt đến một trình độ đạo đức, hoặc học thức rất cao, mà còn thể hiện một cá tính hết sức đặc biệt. Về đạo đức và học vấn, Phan Khôi đã phấn đấu quyết liệt để từ nhà nho cổ điển (đi thi Hương) thành nhà nho duy tân (theo Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu), rồi thành một nhà nho Tây học đầy cá tính. Người trí thức Tây học thì ưu tiên phát triển cá nhân, coi cá nhân là một giá trị tự thân. Con người cá nhân không chống lại xã hội, mà chỉ chống lại đám đông, cộng đồng, tập thể. Nó đấu tranh để có một xã hội dân chủ, pháp quyền để cá nhân tự do phát triển hết năng lực của mình. Bước vào thời hiện đại, cái tôi của người trí thức Tây học thì nghiêng về chủ nghĩa lãng mạn, còn cái tôi duy lý của nhà nho Phan Khôi thì nghiêng về chủ nghĩa duy lý. Tuy chưa trở thành một cá nhân hiện đại, nhưng ý thức cá nhân rất cao ở nhà Tây học gặp gỡ với nhân cách cũng rất cao của một nhà nho đã làm cho Phan Khôi trở thành một con ngườimạnh mẽ, xuất chúng, điển hình của một thời.
Tuy nhiên, khi thời của loại hình nhà nho Tây học đã qua, thì ở Phan Khôi nhà nho và Tây học, hay xét từ phương diện tâm lý - văn hóa là nhân cách và cá nhân, không còn hòa hợp với nhau như trước đây để tạo thành thể nhất quán nữa, mà rã ra thành hai yếu tố, nhiều khi khuynh loát lẫn nhau, tranh chấp nhau. Phan Khôi như bị mất đi cái sức mạnh nguyên ủy của mình, ông trở nên phân vân, hoài nghi và hay nói đến tuổi tác, nghỉ ngơi, dưỡng già. Đây chính là tâm trạng của Phan Khôi sau-Sông-Hương lúc ông phải về sống ở Bảo An quê nhà. Tuy thế, ở ông, vẫn còn một nhất quán khác là giữ vững một thái độ độc lập kiên quyết không tham gia vào các hoạt động chính trị. Khi Nguyễn Bá Trác, bạn học cũ, vận động ông ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, khi Phan Bá Lân, cháu gọi ông bằng chú, thuyết phục ông tham gia Quốc dân đảng, kể cả khi Phan Thao, người con trai trưởng của ông, đề nghị ông vào Việt Minh, Phan Khôi đều kiên quyết từ chối. Nhưng rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Trong hoàn cảnh không thể làm kẻ ngoài cuộc được nữa, Phan Khôi thấy theo Việt Minh là hơn cả, vì ít ra Việt Minh, theo ông nghĩ, cũng là một mặt trận chứ không phải là một đảng phái. Ông bèn theo bạn bè văn nghệ "đi về phía Việt Bắc".
Những năm đầu kháng chiến, mặc dù gian khổ, nhưng vẫn hào hứng, vui vẻ trong bầu khí dân chủ. Bản thân Phan Khôi làm việc ở Đoàn Văn hóa Kháng chiến, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn hăng hái tham gia chiến dịch. Nhưng từ 1949 trở đi, nhất là sau "chỉnh huấn chỉnh phong", tinh thần dân chủ ấy không còn. Người ta bắt đầu phân biệt người của "Đoàn thể" với người ngoài "Đoàn thể", Đảng viên với quần chúng, cấp trên với cấp dưới. Những người đã từng quen biết nhau, thậm chí bạn bè nhau, mấy chục năm qua, bỗng trở nên xa lạ. Có một khoảng cách nào đó giữa người với người. Phan Khôi, hơn ai hết, cảm thấy điều ấy một cách rõ rệt. Là người suốt đời muốn độc lập với chính trị, cuối cùng Phan Khôi vẫn bị chính trị vây khốn. Ông biết mình chỉ là một con ốc nhỏ trong một cỗ máy lớn. Trong hai yếu tố làm nên con người ông, thì cá nhân bị thủ tiêu, hay đúng hơn bị đẩy lui vào bên trong và bị giam giữ ở nơi yên lặng, không có tiếng nói. Nhưng nhân cách thì vẫn còn, vì con người nhà nho ở ông không mất đi đâu cả, trong khi ở một số trí thức Tây học khác thì mất cả hai: cá nhân lẫn nhân cách. Hẳn để bảo vệ nhân cách, nên dù trong bất cứ trường hợp nào ông đều làm tròn bổn phận và nghĩa vụ của mình, nhất là "nghĩa vụ" im lặng, không nói. Phan Khôi lao vào nghiên cứu Việt ngữ và dịch Lỗ Tấn. Một công việc dường như chẳng ăn nhập gì với thời cuộc, nhưng lại giúp ông giữ vững được tiết tháo và, quan trọng hơn lý do tồn tại. Vì thế, khi lấy cớ lý do sức khỏe, người ta muốn "ưu tiên" ông không phải làm gì cả, thì ông nhất định không chịu. Hơn nữa với ông, ăn lương mà không làm việc là bất lương. Một kỳ quặc nữa là khi không được/ bị gọi đi học chỉnh huấn, cũng vì lý do bệnh tật, Phan Khôi vẫn tình nguyện đi, một mặt để trải nghiệm thêm, mặt khác hoàn thành nghĩa vụ của người đi kháng chiến. Nhưng, càng ngày ông càng cảm thấy cô đơn và buồn: "Tuổi già thêm bệnh hoạn,/ Kháng chiến thấy thừa ta./ Mối sầu như tóc bạc,/ Cứ cắt lại dài ra." (Hớt tóc trong bệnh viện quân y). Tuy nhiên, Phan Khôi, như ông vẫn tự nhận, là một thứ Hồng gai vừa có hoa vừa có gai, chứ không phải loại hoặc chỉ có hoa, nhạt loét, hoặc chỉ có gai... Bởi thế, khi hòa bình trở lại, Phan Khôi cùng một số văn nghệ sĩ và các giáo sư đại học tham gia vào phong trào Nhân văn Giai phẩm.
Nếu nhìn Nhân văn Giai phẩm như một trào lưu văn nghệ do các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu từ kháng chiến trở về đấu tranh để có một không gian tự do hơn cho sáng tạo, thì việc Phan Khôi tham gia vào phong trào này là một điều tự nhiên, tất yếu. Một con người có nhân cách của một sĩ phu cókhí tiết/ tiết tháo, một cá nhân tự do và chính trực lại có đầu óc logic, biết xét đoán, chống công thức, thích đặt lại vấn đề, thích cái mới, hơn nữa chính mình chứng kiến những điều khuất tất của vụ giải thưởng văn học 1954 - 1955, như Phan Khôi thì không thể làm khác được. Ông tìm ra cái gốc của vấn đề văn nghệ là ở lãnh đạo, bởi thế ông đã viết bài "Phê bình lãnh đạo văn nghệ", cũng bởi thế ông không trách những người lập ra Giai phẩm, bởi theo logic có nhân ấy thì mới có quả ấy. Thậm chí ông còn tham gia viết bài cho họ. Từ việc tham gia viết bài đến việc nhận làm chủ nhiệm tờ Nhân văn, tôi nghĩ, là một việc làm có ý thức, tuy Phan Khôi còn ít nhiều băn khoăn về cách làm báo không theo quy củ của Lê Đạt, Trần Dần cũng như những cách tân thơ của họ, hoặc xu hướng thiên về các vấn đề chính trị của Nguyễn Hữu Đang. Bởi thế, tôi không đồng với ý kiến Lê Đạt cho rằng hành động nhận lãnh chủ nhiệm Nhân văn của Phan Khôi chỉ như một nghĩa cử, một đứng ra gánh vác việc chung của người quân tử, hoặc đa số ý kiến của những người trong gia đình, hoặc những người yêu mến Phan Khôi (hẳn vì muốn minh "oan" giúp ông), cho rằng ông đã ngây thơ về chính trị, thậm chí ông bị lừa. Phan Khôi là một người trách nhiệm, trước với bản thân sau với xã hội. Đừng hạ thấp ông dù vì một lý do "chính đáng" nào.
Con-người-trách-nhiệm-Phan-Khôi này được bộc rất rõ trong bài thơ "Nắng chiều":
Nắng chiều đẹp có đẹp.
Tiếc tài gần chạng vạng,
Mặc dù gần chạng vạng,
Nắng được thì cứ nắng.
Và Phan Khôi đã nắng lên được bằng thứ nắng quái chiều hôm. Một lần nữa, nhất quán với bản thân mình, Phan Khôi lại chuyển từ chính trị sang văn hóa, nhưng lần này không phải vì ông làm chính trị, mà nhằm thoát khỏi chính trị, để trở thành một nhà văn hóa thực sự. Sống trong một đất nước chính trị, cuộc sống của Phan Khôi, vì thế, không thể không tránh khỏi hệ lụy, kể cả cái chết và những cái sau-chết. Tuy vậy, cái bước chuyển từ chính trị sang văn hóa mà ông thực hiện luôn sống lại ở những thế hệ kế tiếp để trở thành một con đường, thậm chí đường lớn./.

7/11/14

Tôi thích đọc . I love to read: Lồng chăn bông cực nhanh và đơn giản

Tôi thích đọc . I love to read: Lồng chăn bông cực nhanh và đơn giản: Lồng chăn bông cực nhanh và đơn giản Việc tự mình lồng chăn bông khi giá lạnh sẽ không còn là công việc nặng nhọc, nếu bạn áp dụng các hướ...

6/11/14

Giới thiệu một phương pháp điều trị sỏi kẹt Niệu đạo bằng dụng cụ nội soi
                                                                                                    Võ Ngọc Thạch
                                                                    
Đặt vấn đề:
-Sỏi đường tiết niệu là một bệnh lý phổ biến, nhất là khu vực miền trung, trong đó sỏi “ chui” vào niệu đạo gây bí đái cấp là một cấp cứu niệu khoa thường gặp.
- Điều trị sỏi kẹt Niệu đạo cũng như sỏi Bàng quang ở các nước phát triển           
   hầu như không còn mổ mở, các phương pháp như: tán sỏi bằng laser
   ( laser lithotripsy) , tán sỏi bằng thủy điện lực (electrohydraulic lithotripsy)  bóp sỏi bằng dụng cụ qua nội soi bàng quang...đã được áp dụng.

4/11/14

Trò chuyện với Nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn: Cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới!


Chia sẻ bài viết này
Sau khi kinh tế xã hội rơi vào vòng khó khăn, chúng ta cần nhìn lại để biết đâu là “gót chân Achilles” của chính mình. Sự phát triển và trưởng thành của một dân tộc luôn từ những cuộc tự vấn. Qua câu chuyện với nhà báo Lê Ngọc Sơn, nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn có những tâm sự đầu năm với các bạn sinh viên, theo ông, có nhìn lại bản thân mình thì mới sinh tồn được qua những khó khăn phía trước.
CHUYỆN “HẠ TẦNG KIẾN THỨC”
Lê Ngọc Sơn: Thưa ông, vì sao ông đi dịch những cuốn sách triết học đồ sộ và kinh điển của thế giới?!
Bùi Văn Nam Sơn: Thực ra tôi già rồi, thời gian của tôi không còn nhiều nữa, tôi chỉ cố gắng làm cái gì trong khả năng của tôi thôi. Tôi tự đặt ra cho mình nhiệm vụ chính bây giờ là dịch một số các tác phẩm kinh điển sang tiếng Việt. Vì lẽ, thứ nhất, những quyển sách dạng này khô khan chẳng ai thèm dịch; thứ hai, nếu không dịch những quyển này thì không biết bao giờ người ta mới dịch… trong khi đó là những nền tảng cho các anh em trong chuyên ngành. Nhìn vào thư viện của Việt Nam mình, chưa thấy có mấy sách kinh điển của nhân loại, tôi thấy buồn lắm. Thành thực mà nói, không thể đòi một bạn sinh viên đọc tiếng Anh hay các ngoại ngữ khác vèo vèo như đọc tiếng Việt được. Vả lại, quả là không công bằng! Một người cùng trang lứa với các bạn sinh viên của ta, như những sinh viên ở Pháp, Mỹ, Đức, Nhật… thì họ dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, họ đỡ vất vả hơn nhiều lắm. Bây giờ đòi hỏi những bạn cử nhân mới 23 tuổi ngồi đọc một cuốn sách kinh điển dày cộp bằng tiếng Anh, thậm chí bằng tiếng Đức… làm sao mà đọc nổi… Đâu phải sinh viên Mỹ nào cũng đọc được tiếng Đức, hay sinh viên Pháp nào cũng đọc được tiếng Anh thông thạo… Thế mà họ vẫn thành công, vì họ sử dụng các bản dịch có chất lượng, và các công trình nghiên cứu của họ vẫn đạt được trình độ quốc tế.
Ở Việt Nam, ít ai làm việc dịch thuật, thế nên gánh nặng đè lên vai những anh em trẻ. Lứa tuổi 18-25 phải gánh cả một gánh nặng, vừa học kiến thức, vừa học ngoại ngữ. Do trở ngại về ngôn ngữ, mình khó có thể nắm vững vấn đề và tra cứu đến nơi đến chốn. Điều đó không phải lỗi của thế hệ trẻ, đó là lỗi của thế hệ đi trước, như chúng tôi, không kịp chuẩn bị tư liệu nền cho các bạn. Thật là quá cực, quá tội cho các bạn! Còn việc chúng ta phải nỗ lực học ngoại ngữ lại là chuyện khác! Khi tiếng Anh đã trở thành một lingua franca trong khoa học, việc đọc, viết, nói thành thạo tiếng Anh trong các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật là một yêu cầu hiển nhiên. Trong các ngành khoa học xã hội-nhân văn, còn cần thêm nhiều ngoại ngữ lẫn cổ ngữ khác nữa, nhưng vấn đề nói ở đây là không thể đòi hỏi những gì bất khả thi và quá sức…
Lê Ngọc Sơn:Thời sinh viên của ông ắt hẳn thấm thía nỗi vất vả này lắm?
Bùi Văn Nam Sơn: Đúng. Thời sinh viên, tôi cũng đã rất “đau khổ” vì thiếu sách tiếng Việt. Năm 21 tuổi, tôi sang Đức học, sau khi học xong cử nhân ngành Triết ở Sài Gòn, lúc đó tự thấy vốn liếng chữ nghĩa cũng kha khá rồi... Khi sang đó thì từ bậc cử nhân cho đến tiến sĩ, từ người mới vào trường đến người sắp ra trường đều có thể học chung một lớp. Lớp của tôi có mấy ông bạn người Nhật Bản, người Hàn Quốc… Lúc đó các bạn Hàn Quốc cũng khổ sở, vật vã như mình, vì nước họ có rất ít những bản dịch ra tiếng Hàn, và cũng như tôi, chưa thể đọc tiếng Đức thành thạo được. Trong khi đó mấy chàng Nhật Bản còn trẻ măng, mới 19 tuổi, vừa học xong tú tài, lại tỏ ra am hiểu và tự tin lắm! Tôi kinh ngạc, thì các bạn ấy mới mở túi cho xem một đống sách toàn tiếng Nhật: những bản dịch Hegel, Kant, Heidegger…, sách tham khảo, từ điển. Mình mất cả năm vật lộn với một cuốn sách, họ chỉ cần vài tháng là đọc xong. Thời gian mình đầu tư cho chuyện đọc đã quá mất sức rồi, làm sao có thể suy nghĩ hay tìm tòi thêm được cái gì mới nữa. Khoảng cách về điều kiện nghiên cứu giữa mình với người Nhật thật rõ rệt!
Riêng trong lĩnh vực triết học, sách vở mênh mông, còn số dịch giả thì đếm trên đầu ngón tay… Lẽ ra cần cả một thế hệ chuẩn bị nền móng, cho các bạn trẻ sau này đỡ cực hơn. Tất nhiên, ý nghĩa của việc dịch thuật không phải chỉ có thế. Nó còn góp phần xây dựng ngôn ngữ khoa học cho một đất nước, đem ánh sáng khai minh đến cho số đông để cải hóa xã hội, như nhiều bài viết mới đây của quý Thầy Nguyễn Xuân Xanh, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Văn Thọ… đã nhấn mạnh.
Lê Ngọc Sơn: Vậy cho đến nay, so với các nước trong khu vực, chúng ta đang thế nào, thưa ông?
Bùi Văn Nam Sơn: Cách đây chừng 5-7 năm, chính ông bạn người Hàn Quốc ngày xưa học chung với tôi, về dạy ở Đại học Seoul, viết thư kể cho tôi nghe: ông và thế hệ trước đó, từ những năm 1970 trở đi đã bắt tay vào dịch sách vở cho Hàn Quốc. Hầu hết những tác phẩm kinh điển quan trọng từ tiếng Đức đã được dịch sang tiếng Hàn, hết toàn tập này đến toàn tập khác, mà mỗi toàn tập của một tác giả thì có đến 40-50 tập. Tôi rất kinh ngạc về sức làm việc của họ. 40 năm thôi, nhưng với trách nhiệm với đất nước và đàn em, họ quyết tâm làm được việc lớn như thế. Vậy thì ngày hôm nay, làm sao sinh viên của ta có thể “đấu” lại được một sinh viên Hàn Quốc, trong khi cách đây 40 năm, anh sinh viên này cũng vất vả y như mình. Khoảng cách đó thật khủng khiếp!
Việc học hành nghiêm chỉnh, tiếp thu có hệ thống đã là thách đố ghê gớm, và cái đó cần nhiều thế hệ mới vượt qua được, ít nhất cũng là 30-40 năm như Hàn Quốc. Chúng ta đừng vội nói gì cao xa, sách vở đàng hoàng là nền móng cơ bản nhất của nền học vấn và của nền đại học.
Lê Ngọc Sơn:Vì sao chúng ta không làm được như những nước ở gần mình như Nhật, như Hàn? Và ông có thấy được cuộc đua tranh trên thế giới về mặt tri thức đang diễn ra rất quyết liệt?
Bùi Văn Nam Sơn: Chúng ta thiếu tính tổ chức, thiếu khả năng làm việc tập thể và một kế hoạch trường kì của cả một tầng lớp, của cả một thế hệ. Mỗi thế hệ phải thấy trách nhiệm lịch sử của mình, thấy tình trạng khách quan đặt ra cho mình gánh nặng nào, và họ phải giải quyết một cách thông minh nhất, ít tốn sức nhất, với sự bền bỉ và quyết tâm. Thế hệ sau thừa hưởng và nối tiếp thành quả của những người đi trước, thì nền học thuật cứ thế đi lên thôi.
Tôi được cho biết rằng ở Nhật, những tạp chí khoa học chuyên ngành trên thế giới hầu như lập tức được dịch sang tiếng Nhật, vì họ có nhu cầu cạnh tranh. Nếu không theo kịp thông tin mới, làm sao có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới, làm sao bắt kịp trình độ quốc tế để đi dự hội thảo khoa học?
Trở lại tình cảnh của ta, cơ sở hạ tầng về kiến thức là phần rất chểnh mảng. Cái cơ bản nhất thì lại bị xem nhẹ… Bây giờ cứ hô hào sinh viên sáng tạo đi, có công trình đột phá đi, hãy phản biện đi… Nhưng phải biết người ta đã viết gì, nghĩ gì, ta mới phản biện và có ý kiến riêng được chứ!
SỬA SOẠN TINH THẦN, CHUẨN BỊ YÊN CƯƠNG
Lê Ngọc Sơn:Trong quan niệm của ông, một bạn sinh viên phải thế nào?
Bùi Văn Nam Sơn: Theo tôi, thời gian được học đại học là quãng thời gian đẹp nhất, quý nhất của một đời người. Khi ta đang ở trong quãng thời gian đó, thường không thấy quý đâu, nhưng sau này nhìn lại mới thấy đây là thời gian quý nhất, “sướng” nhất. Được trở thành sinh viên là một bước ngoặt. Chữ “sinh viên” khác về chất với chữ “học sinh”. Ngay bản thân chữ “sinh viên” đã cho thấy sự khác biệt ấy: Sinh viên trong tiếng Anh và tiếng Đức là “student”, trong tiếng Pháp là “étudiant”, liên quan đến 3 động từ: to study, studieren, étudier ít nhiều đều mang hàm nghĩa là “nghiên cứu”. Sinh viên là phải nghiên cứu, chứ không chỉ thụ động tiếp thu kiến thức... Trong tiếng Việt, “sinh viên” có chữ “viên”, nghĩa là đã có một vị trí nào đó... Do vậy, cần ý thức được điều này để cả người dạy lẫn người học ở bậc đại học nhận thức được trách nhiệm của chính mình. Dạy và học ở đại học không chỉ là truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà chủ yếu là gợi hứng cho nghiên cứu.
Ngay cả ở trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông cũng có vấn đề. Những năm 1970 về trước, mang tấm bằng tú tài của Việt Nam sang Tây Âu là được chấp nhận hầu như tương đương, còn những bằng tú tài của Thái Lan, Malaysia, Indonesia… thì buộc phải học lại một năm, tức chỉ bằng đầu lớp 12 bên đó. Bây giờ thì như thế nào? Chúng ta phải nghiêm túc tự vấn về mình...
Lê Ngọc Sơn: Ở các nước phát triển, khoa học trú ngụ ở đại học, tại sao ở các đại học ở ta thì chưa thấy gì, thưa ông?
Bùi Văn Nam Sơn: Theo tôi là do không phân biệt rạch ròi giữa đại học và trung học. Trường đại học dứt khoát không phải là trường phổ thông cấp 4. Nó khác về chất trong hệ thống giáo dục quốc gia. Đại học cũng không phải là trường dạy nghề, trường dạy nghề lẽ ra cần có một hệ thồng khác, cũng cao cấp và sáng giá không kém gì đại học. Ở Đức, sau khi đỗ tú tài, ta có hai con đường để lựa chọn, một là các trường kỹ thuật, trường dạy nghề chuyên nghiệp dành riêng cho những kỹ sư thực hành, rất hay và thiết thực, ra trường dễ kiếm việc làm và lương cao. Hoặc hướng thứ hai là nghiên cứu: cũng có thể là khoa học-kỹ thuật nhưng nặng về lý thuyết. Do có hai hướng rõ ràng như vậy, dựa vào việc phân định khách quan về nhiệm vụ, nên khi vào đâu, ta sẽ biết làm cái gì, biết rõ tính chất của trường mình. Việc “liên thông” giữa hai loại trường này lại là chuyện khác nữa!
Do đó, đại học đương nhiên mang tính chất nghiên cứu, dù ở năm thứ nhất cũng là nghiên cứu, ở bậc tiến sĩ, hay sau tiến sĩ cũng là nghiên cứu. Từ sinh viên đến giáo sư đều làm nghiên cứu. Không khí của đại học là nghiên cứu. Thành ra, cái mà ta đang nhầm lẫn ở đây là nhẫm lẫn tính chất của đại học, dẫn đến hệ quả rất trầm trọng là biến đại học thành trường dạy nghề, và biến trường dạy nghề thành ra cái gì đó rất là yếu kém và yếu thế. Đã đi học để nghiên cứu thì phải toát ra tinh thần nghiên cứu, tức là toàn bộ giáo sư và sinh viên là một cộng đồng nghiên cứu, người đi trước hướng dẫn, dìu dắt người đi sau, không ngừng hình thành những chuyên ngành mới, những trường phái mới… Nghiên cứu có nhiều cấp độ, cấp thấp/ cấp cao, dễ/ khó… Cũng tránh hướng suy nghĩ rằng, nghiên cứu là cái gì đó cao xa lắm, thực ra đâu phải vậy: ngay năm thứ nhất, bạn cũng đã phải có tư duy nghiên cứu rồi, tự tìm tòi phương hướng và phương tiện nghiên cứu của mình với sự giúp đỡ của người đi trước.
Vì thế, hình thức Sêmina ngày càng chiếm ưu thế. Sêmina là lao động tập thể của sinh viên lẫn giáo sư, của thầy và trò, cùng nhau tìm tòi tài liệu, tổng kết, nhận định, đánh giá những gì đã có, đó là những hình thức ban đầu của nghiên cứu ngay từ năm thứ nhất.
Lê Ngọc Sơn: Theo ông, sinh viên phải chuẩn bị những gì cho một tương lai đầy thử thách trước mặt?
Bùi Văn Nam Sơn: Người Pháp có câu ngạn ngữ: “muốn đi xa phải chăm sóc yên cương” (“Qui veut aller loin, ménage sa monture”/Racine), nghĩa là, phải biết dưỡng sức và chuẩn bị phương tiện. Đi mười dặm thì đơn giản, nhưng đi trăm dặm, nghìn dặm, vạn dặm… thì lại khác. Công việc học cũng vậy thôi, nếu chỉ nghĩ lấy cái bằng ra để kiếm việc làm, nuôi sống bản thân thì khá đơn giản, nhưng nếu muốn tiến xa trong chuyên ngành của mình thì phải chuẩn bị cho 30, 40 năm sau về cả ý thức lẫn sức lực.
Chắc bạn biết rằng trên 30 tuổi rất khó học ngoại ngữ, do nguyên nhân sinh lý thôi, trên 30 tuổi thì các nơ-ron thần kinh già đi, giảm thiểu khả năng tiếp thu. Vậy thì phải luyện rèn ngoại ngữ trước 30 tuổi. Người làm nghiên cứu cần trang bị cho mình nhiều ngoại ngữ. Đối với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, cần phải có hai ngoại ngữ thông dụng. Đối với người làm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội-nhân văn, thì càng nhiều càng tốt, cả cổ ngữ nữa. Đó là vốn liếng tối thiểu để nghiên cứu.
Lê Ngọc Sơn: Cần tạo cảm hứng ham hiểu biết của anh chị em sinh viên như thế nào, thưa ông?
Bùi Văn Nam Sơn: Theo quan sát của tôi, hiện nay, anh chị em sinh viên đang chịu nhiều áp lực thi cử quá mức. Cần tạo một khoảng hở để anh chị em sinh viên vui chơi, và có… chơi nhiều thì mới thấy việc học là thú vị, không học thì tiếc, và thế là lao vào học. Học trong sự say mê. Hãy tạo không gian tự do để anh chị em cảm thấy hứng thú nghiên cứu, chứ suốt ngày bị áp lực thi cử, hay sợ tương lai của mình phụ thuộc vào thi cử…thì những việc đó làm hao tổn năng lượng của anh em trẻ một cách quá đáng! Thể lực và thể thao đại học cũng là hiện tượng rất đáng lo ngại, chưa nói đến những hình thức tiêu cực phản giáo dục…
Lê Ngọc Sơn: Chúng ta nên bắt đầu lại thế nào để xây dựng lại tinh thần đại học một cách tử tế?
Bùi Văn Nam Sơn: Hình như ta đang có cao vọng là phấn đấu đứng vào hàng ngũ những đại học tiên tiến trên thế giới. Tôi nghĩ là khó vô cùng! Với những gì hiện có, tôi e chuyện đó là ảo tưởng. Nhiều thập kỷ nữa chưa chắc mình đã vào được hàng ngũ những đại học trung bình ở khu vực, chứ đừng nói đại học đẳng cấp quốc tế. Và để có cơ may làm được điều đó thì việc trước tiên là phải thay đổi tính chất của đại học hiện nay.
Điều đáng lo là chúng ta không lo những chuyện bình thường, coi nhẹ những chuyện bình thường. Chuyện lẽ ra ai cũng phải làm, nước nào cũng phải làm thì mình lại xem thường, mình chỉ muốn làm những gì khác thường, phi thường. Làm sao làm những chuyện khác thường, phi thường khi cái bình thường, ta chưa làm được? Hãy là cái gì bình thường trước đã. Những đại học, học viện trên thế giới người ta là cái gì thì mình là đúng cái đó đi đã: đầu tư cho sách vở đầy đủ, đầu tư cho con người, không gian học thuật, v.v...
ĐI XA CẦN CÓ BẠN ĐƯỜNG VÀ TẬP HIỂU NHỮNG ĐIỀU KHÁC BIỆT
Lê Ngọc Sơn: Như vậy, sẽ phải bình tĩnh để nhìn lại năng lực tự thân và hướng đi của mình?
Bùi Văn Nam Sơn: Vâng. Một nền giáo dục lạc hậu thì đuổi mãi chắc rồi cũng bắt kịp, nhưng lạc hướng thì chịu thua. Chúng ta thường mong làm những điều phi thường, nhưng đôi khi thực chất nó lại là nghịch thường. Những cách làm của mình hiện nay là trái với bình thường, không giống ai và không có ai làm như thế cả. Trên thế giới, nền giáo dục quốc gia được định hình tư lâu lắm rồi. Những định chế khoa học cũng đã định hình từ xa xưa với hơn 700 năm kinh nghiệm. Họ làm gì, ta làm nấy cho giống đại học cái đã, rồi phát triển dần lên.
Lê Ngọc Sơn: Phía trước là cả chặng đường dài, theo ông, các bạn sinh viên nên làm gì?
Bùi Văn Nam Sơn: Theo tôi các bạn trẻ cần hình thành ý thức tự học và xác định tinh thần đi xa phải có bạn đường. Thứ nhất,sinh viên cần có tinh thần tự học trọn đời, nghiên cứu trọn đời. Ngay cả khi đã “bỏ nghề”, nhưng nếu còn tha thiết với nó, ta vẫn tìm sách mà đọc, cố gắng hết sức trong thời gian eo hẹp để làm giàu tri thức cho mình, nâng chất lượng cuộc sống mình lên. Đó là tinh thần tự học. Thứ hai, đã có tinh thần tự học, thì hoàn cảnh nào đi nữa vẫn có thể tham gia làm việc từng nhóm với nhau. Bạn có thể sinh hoạt với nhau trong một nhóm bạn hữu tâm giao, có thể theo đuổi một công việc tình nguyện, không ăn lương, thậm chí không dính đến bộ máy hay tổ chức nào cả. Chúng ta cần những nhóm người nhiệt huyết, không lệ thuộc vào đồng lương nhà nước, cơ quan… Cái có sức sống nhất chính là những nhóm nghiên cứu độc lập, tự nguyện, vô vị lợi, chủ yếu là vì lòng say mê, tình tri kỉ… được hình thành ngay thời sinh viên. Cho nên tình bạn trong đại học không chỉ là vui chơi, chính tình bạn có tính tự nguyện này là mầm mống cho những hoạt động khoa học bền bỉ. Trong lịch sử khoa học, có những nhóm nghiên cứu kết bạn với nhau từ hồi sinh viên cực kì khăng khít, đã tạo ra những công trình phi thường.
Lê Ngọc Sơn: Theo ông, làm sao để người trẻ kiên trì trên con đường nghiên cứu?
Bùi Văn Nam Sơn: Đã là sinh viên đúng nghĩa thì ta phải ham chuyên môn của mình ngay từ khi bước chân vào trường đại học. Bước vào giảng đường, thư viện hay phòng thí nghiệm, ta cảm thấy linh thiêng, hào hứng, thì mới có hi vọng thành tựu. Ít ra là cũng ham đọc sách, chứ cầm cuốn sách mà đọc vài trang là lăn ra ngủ thì không thể nào đi xa được đâu. Phải mê sách vở, mê nghiên cứu, mê chữ nghĩa,... thì mới có triển vọng. Dần dần thành thói quen, trong đó có thói quen tập đọc, tập chịu đựng: cái khó nhất trong học tập, nghiên cứu là chịu đọc những cái mà mình không thích. Đọc một cách nghiêm chỉnh, không thành kiến những gì không giống mình. Nghiên cứu là để hiểu vấn đề và hiểu người khác một cách nghiêm chỉnh, trung thực. Đừng vì ghét quan điểm của tác giả nào đó, rồi chưa đọc kỹ về họ đã bác bỏ hay xuyên tạc họ. Cố tình hạ thấp họ để nghĩ mình thắng họ, thì thực chất họ cũng chẳng thấp hơn được. Phải hiểu một cách chân thực, phản bác họ bằng luận cứ. Và để làm được điều đó thì, như đã nói, phải chịu khó đọc những cái mình không thích, học những môn mình không ưa. Tập thói quen này khó lắm đó, nhưng hoàn toàn có thể làm được.
Dù có nhiều khó khăn đón chờ phía trước, nhưng xin hãy cứ kiên trì, rồi mùa hoa trái sẽ tới!
Xin cảm ơn ông!
Lê Ngọc Sơn (Thực hiện)
Rải băng: Tạ Thương
(Bài đăng trên báo SVVN số Xuân Quý Tỵ 2013)


GÒ NỔI 


Con sông Thu Bồn, bắt nguồn từ góc rừng núi Tây nam của tỉnh Quảng nam, thoạt tiên chảy theo hướng Nam Bắc, khi đến vùng Bắc của tỉnh thì bắt đầu đổ theo hướng Tây Đông để ra biển. Trên đoạn đường này khi còn cách biển khoảng trên hai chục cây số con sông bỗng tẻ làm hai nhánh chạy riêng rẻ, mãi đến khi nghe hơi gió mặn của biển mới nhập lại làm một để hoàn tất nốt cuộc hành trình. Từ đây chỉ còn mười cây số nữa là đến đích cuối cùng, con sông sẽ hòa nhập vào đại dương. Vùng đất nằm giữa hai nhánh sông tách ra rồi nhập lại ấy gọi là Gò Nổi, thuộc quận Điện Bàn. Đó là một cù lao chiều dài trên mười cây số, chiều ngang chỗ rộng nhất năm, sáu cây số. Vì kích thước của nó rất lớn như thế nên từ xưa cư dân trên đó không coi mình là "dân đảo" với các đặc tính là sông nước và biệt lập. Trên cái gò nổi lên giữa hai nhánh sông ấy đời sống cũng như...trên đất liền, có điều muốn đi đâu ra ngoài đều phải dùng đò. Đời sống của dân Gò Nổi luôn luôn dính liền với những chuyến đò ngang mà tên của người lái đò sẽ thành tên của bến sông và các bến ấy trải đều quanh Gò Nổi để làm các đầu mối giao lưu với "thế giới bên ngoài".

Trước cuộc kháng chiến chống Pháp, đó là một vùng dân cư đông đúc. Khắp thôn làng nhà cửa ngăn nắp, vườn tược đầy cây trái rào dậu tươm tất, đường sá phong quang. Trong các làng, chỗ ngã tư ngã ba thường có những cái giếng xây đá nước trong vắt. Một con đường chính rải đá chạy suốt chiều dài của hòn đảo. Về phía Tây, đường xe lửa nằm vắt ngang qua Gò Nổi như một con rết lớn, với một cái đầu kỳ dị là cây cầu sắt Kỳ Lam và cái đuôi cũng kỳ dị không kém là cầu Chiêm Sơn. Về phía Đông, quốc lộ 1 chạy sát bên ngoài địa phận Gò Nổi, băng qua sông Thu Bồn bởi cầu Câu Lâu ngay bên dưới chỗ hai nhánh sông hợp lưu.

Đời sống kinh tế ở đây rất thịnh vượng do hoạt động tiểu công nghiệp song song với nông nghiệp. Suốt giải đất, làng mạc rợp bóng tre xen kẽ với những cánh đồng lúa xanh tốt. Dòng sông Thu Bồn nuôi nấng một cách âu yếm mảnh đất mà nó đã ôm gọn trong hai tay của mình. Mỗi năm vào mùa lụt nước tràn bờ một cách hiền hòa đem phù sa mới đến cho từng mảnh ruộng, khu vườn.


Vào mùa khô chính dòng nước trong vắt của con sông đem đến màu xanh tươi mát cho tất cả các cánh đồng lúa, các biền dâu và vườn cây ăn trái. Thời trước chưa có hệ thống thủy lợi như bây giờ nhưng vào mùa khô các cánh đồng đều được tưới đẫm nhờ sức trâu với một hệ thống công cụ gọi là xe trâu. Trong chuyến đi sứ qua Pháp năm 1863, khi sứ bộ ghé thăm Ai Cập, phó sứ Phạm Phú Thứ đã vẽ kiểu các guồng lay nước trên sông Nil đem về sáng chế ra một hệ thống trục gỗ vận hành bằng sức trâu kéo để quay guồng đưa nước từ sông, từ đìa lên ruộng. Khắp Gò Nổi đều ứng dụng phương pháp này nên rất sớm nông dân ở đây đã hầu như thoát khỏi một công việc nặng nhọc kinh người là tát nước vào mùa khô. Xe trâu có thể hoạt động suốt ngày đêm, và vào mùa hè đây đó khắp vùng vang lên tiếng kẽo kẹt ngân nga của các trục gỗ nghiến vào nhau, tiếng guồng nước đổ rào rào tạo thành một khúc nhạc hè quen thuộc. Khúc nhạc ấy đã âm vang tại vùng Gò Nổi trong vòng một thế kỷ, từ ngày quan Thượng Thư họ Phạm đi sứ bên Tây về, như là tiếng âm vang của một tấm lòng thiết tha muốn đem nền khoa học kỹ thuật của thế giới về cho xứ sở. Từ những biện pháp canh tân đề nghị với triều đình, những sách dạy phép khai mỏ, dạy thuật đi biển, dạy về Vật Lý...được đem về nước xuất bản, cho đến một công cụ dẫn thủy đơn sơ và hữu ích lấy kiểu từ bờ sông Nil xa xôi đem về phổ biến cho dòng sông Thu Bồn, tấm lòng ấy như còn vang vọng mãi trong ruộng đồng, lũy tre, trong dòng nước chảy rào rào ngày hè để làm tươi xanh vùng đất Phù Kỳ. Sau 1954 một số máy nổ được sử dụng để đưa nước vào ruộng đã thay thế dần một phần các chiếc xe trâu chậm rãi và cổ lỗ. Và ngày nay hàng loạt các trạm bơm điện thay thế cho máy nổ, và thế là cách đưa nước vào ruộng bằng sức trâu kéo một thời được coi như là một cuộc "Cách mạng nông nghiệp" của vùng này hoàn toàn biến mất. Thấm thoát khúc nhạc hè kẽo kẹt ấy chỉ còn trong ký ức của những người già!

Với lúa, bắp và một số hoa màu phụ, vùng này là một trong những vùng hiếm hoi của miền Trung có thế tự sản xuất đủ lương thực để dùng. Với bông thu hoạch trên ruộng nhà, ngày xưa các gia đình dệt một thứ vài hơi thô gọi là vải ta, còn việc trồng dâu nuôi tằm dệt lụa thì đã thành qui mô khá lớn.

Hai làng Phú Bông và Bảo An chuyên nghề ươm tơ dệt lụa, với các "khung cửi máy" (vận hành bằng bàn đạp, qua một hệ thống chuyền lực khá phức tạp, do ông Cửu Diễn người làng Phú Bông sáng chế) chạy ầm ầm suốt ngày, đã sản xuất ra hàng lụa óng ả, hàng tussor sang trọng mà thời bấy giờ đã được dân buôn ghe bầu mang bán tận Nam Vang. Nhưng chính đời sống tinh thần mới là nét đặc trưng đáng nói nhất của Gò Nổi. Dân chúng thông minh, hiếu học. Đời nào trên khắp đất Gò Nổi cũng sản sinh những trí thức lớn, chữ trí thức với ý nghĩa đúng nhất của nó, tức là biết thao thức về những vấn đề nóng bỏng của thời đại mình, biết dấn thân và hy sinh vì những nhu cầu bức bách của dân tộc và đất nước. Những gia đình thế phiệt trải đều khắp cù lao, nếu bắt đầu từ mỏm phía Tây đi về hướng Đông ta sẽ lần lượt gặp những tên làng cùng tên những dòng họ và nhân vật nổi tiếng.


Thoạt tiên là làng Tư Phú, quê hương của Trần Cao Vân, nhà cách mạng đã làm cuộc khởi nghĩa thầy tu tại Phú Yên năm 1898 và cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân tại Huế. Mưu đồ thất bại ông đã bị thực dân Pháp giết năm 1916.

Kế đến là làng La Kham, có họ Lê Đình với hai anh em Lê Đình Dương và Lê Đình Thám, trong số những bác sĩ y khoa đầu tiên của Việt Nam. Vào những năm 30 bác sĩ Thám đã đề xướng phòng trào chấn hưng Phật Giáo Việt Nam với tờ báo Viên Âm tại Huế. Con người này đã có cái nhìn của một vị tiên tri, thấy trước cái nguy cơ của tinh thần sùng vật chất sẽ khiến người Việt nam đánh mất cái phẩm cách tâm linh mà qua bao nhiêu đời, văn hóa Việt Nam trong đó Phật Giáo đóng vai trò quan trọng, đã hun đúc nên. Còn Lê Đình Dương đã tham gia cuộc khởi nghĩa Duy Tân, năm 1916 tại Huế, bị Pháp bắt đày đi Ban Mê Thuột và qua đời tại đó.

Rời La Kham chỉ mấy bước là đến làng Bảo An của Phan Khôi với dòng họ Phan nổi tiếng của ông. Phan Khôi suôt đời không tham chính; chỉ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nổi tiếng là một nhà báo cương trực, một học giả cứng cỏi. Ông đã là con chim đầu đàn của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội năm 1955-56, lên tiếng thẳng thừng phê bình lối lãnh đạo văn nghệ nô dịch của cộng sản và bị chế độ cộng sản bao vây, cô lập cho đến chết. Cái giọng sang sảng của ông trên văn đàn mãi đến cuối đời vẫn còn vang vọng, như nói lên tính chất của Gò Nổi quê ông, trí tuệ và khẳng khái.

Cạnh Bảo An, làng Xuân Đài là quê của Hoàng Diệu, vị Tổng Đốc Hà Nội đã tuẫn tiết theo thành. Từ đây qua một cánh đồng nhỏ là đến làng Trừng Giang (có nghĩa là "sông nước trong", tên làng thật thi vị), nơi đây là quê của Phạm Hầu (con của Phạm Liệu, một trong "ngũ phụng tề phi", thi sĩ tài hoa mà mệnh yểu đã có mặt trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh từ những năm xưa.

Sát ranh giới phía đông của Trừng Giang là làng Đông Bàn, nơi cư ngụ lâu đời của họ Phạm Phú với Phạm Phú Thứ, người con ưu tú của đất nước vào thế kỷ 19, đã đóng góp bao công sức và tư tưởng cho quốc gia trong cơn chao đảo

Từ Đông Bàn, đi qua một cánh đồng lớn là đến làng cuối cùng về phía đông của Gò Nổi, làng Phú Bông, nơi nổi tiếng về tơ lụa nhưng cũng la nơi sản xuất nhiều bác sĩ y khoa trong nền tân học.

Tại sao có những vùng đất"phát" về một khả năng nào đấy của dân cư sống ở đó? Đó là điều bí ẩn, và đối với Gò Nổi, có lẽ chỉ có con sông Thu Bồn là hiểu được ý muốn thầm kín của đất đai sông núi khi nó giang đôi tay ôm trọn mảnh đất ấy vào lòng mình. Mật độ trí thức khoa bảng của vùng Gò Nổi có thể nói là dày đặc hết đời nọ đến đời kia, như thể là nơi kết tụ tinh hoa theo một qui luật nào đấy của thiên nhiên và nhân văn. Riêng cái hiện tượng Ngũ Phụng Tề Phi, một niềm tự hào về học vẫn thường được nhắc đến của Quảng Nam, tìm hiểu ra thì cả năm con phụng ấy đều có một cái tổ chung là phủ Điện Bàn, và ba người xuất sắc nhất trong năm vị khoa bảng đồng khoa ấy lại là người Gò Nổi: Phạm Tuân làng Xuân Đài và Phạm Liệu làng Trừng Giang đều là Đệ nhị giáp tiến sĩ, kế đến Phan Quang (gốc làng Bàn Lãnh, một làng của Gò Nổi, cơ ngụ tại Quế Sơn) là Đệ tam giáp tiến sĩ.

Sự phồn thịnh trí thức và kinh tế của Gò Nổi mang lại cho đời sống ở đây một dáng vẻ văn hóa tân tiến rất cao. Ở đây hầu như không có ý niệm cường hào. Những nhà giàu lớn trong vùng đều thuộc thành phần hoạt động công nghệ cho nên tinh thần ở đây phảng phất vẻ văn minh kiểu mới lẫn vào cái mực thước đạo mạo cổ truyền. Đó là nổi lên những cái Villa kiểu Tây với những đồ dùng tân thời bóng lộn nhưng ảnh hưởng chưa đủ nhiều để làm hỏng cái tổng thể gồm các lũy tre, những cái cổng cổ kính, hàng chè tàu, mái ngói cũ kỹ rêu phong và trong nhà thì vô số liễn đối đúc kết tư tưởng, hoài bão cùng kỷ niệm của những thế hệ đã đi qua.

Đấy là Gò Nổi cách đây nửa thế kỷ. Trong cuộc chiến chín năm (1946-1954) đây là vùng xôi đậu, không bị một tàn phá nào đáng kể ngoài một vài cái đình làng và vài dinh cơ tư nhân bị Việt Minh triệt hạ vì mục đích tiêu thổ kháng chiến. Nhưng cuộc chiến vừa qua đã xóa sạch bộ mặt của Gò Nổi như là nó đã có trải nhiều thế kỷ qua. Trong thời gian gần một thập kỷ trước 1975 đây là vùng đất chết, đã trở thành hoàn toàn hoang dã: nhà cửa bị phá hết, cây cố đổ hết, dân chúng đi hết. Cả vùng chỉ có con đường xe lửa là còn giữ chiều cao nguyên thủy của nó.

Bắt đầu từ 1975 Gò Nổi mới có lại sự sống với đám dân chúng hồi cư. Lạ lùng thay là sức sống của con người: làng xóm nhà cửa lại xuất hiện đúng trên cái nền xưa, đường ngay lối tắt được phục hồi như cũ, và cuộc bể dâu vừa qua xem như chỉ là một cái chớp mắt của huyễn mộng. Sau mấy năm lao đao với các thí nghiệm cho những ảo tưởng của chủ nghĩa xã hội, cuộc sống của Gò Nổi đang tự điều chỉnh cho hợp với qui luật muôn đời của sự sống. Dân chúng tự động khôi phục lại ảnh hưởng của cổ nhân, vì họ ý thức rất rõ không nối kết lại với quá khứ họ sẽ thành một thứ trôi giạt không bến bờ trên chính mảnh đất quê hương của mình. Mồ mả các danh nhân được tu tạo, nhà thờ của mỗi họ trong làng lại được con cháu góp sức công sức của gây dựng nên, tạo một diện mạo văn hóa không đến nổi vong thân. Chính ảnh hưởng cổ nhân đã cho thế hệ trẻ tuổi biết rầng họ là con cháu của một lớp người ưu tú, có một đời sống chặt chẽ về văn hóa, giỏi giang về lao động và bay bổng về trí tuệ, trên một mảnh đất mà dòng sông Thu Bồn đã chọn để ôm trọn vào đôi tay của nó và truyền cho những bí mật của núi sông và của cuộc sống, hết đời nọ đến đời kia. Tâm hồn của người Gò Nổi may mắn được nuôi nấng bởi tiếng nói vĩnh hằng của dòng sông, sẽ nắm bắt được một phần sự thật của muôn đời, nên có thể vừa bám chặt cuộc sống đời thường, vừa có khả năng vươn cao hơn nó.


 Phạm Phú Minh