19/6/14

Sự nhẹ dạ của người Việt

Nguyễn Trần Sâm
- Nhìn lại lịch sử nước nhà gần một thế kỷ qua, không thể không nhận ra rằng một trong những nguyên nhân chính yếu dẫn đến những tai họa cho dân tộc nằm ngay ở tính cách người Việt, đặc biệt ở sự nhẹ dạ, nông nổi.
Người Việt ta rất thích được ca ngợi, rất có “năng khiếu tự hào”.
Mỗi khi có một cái cớ nào đó thì đại đa số đều say sưa với niềm tự hào vô bờ bến. Đặc biệt, khi trong mấy chục triệu đồng bào có một nhân vật nào đó làm được một việc gì “ngang tầm thời đại” thì mọi người đều coi đó như một bằng chứng về sự vượt trội của “dân tộc tôi”. Họ không biết và không thèm biết rằng một dân tộc khác có thể có hàng ngàn nhân tài cỡ đó, thậm chí còn có những người giỏi hơn. Vì thích được tự hào nên người ta sẵn sàng tin tuyệt đối khi có một người nước ngoài nào đó khẳng định rằng Việt Nam thật tuyệt vời, thậm chí là nhất thế giới.
Sau chiến thắng Điện Biên, nhà thơ chính trị đã viết “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” làm ngây ngất bao trái tim. Sự say sưa càng được nhân lên khi có những người nước ngoài đến Việt Nam và khẳng định Điện Biên Phủ là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại. (Trong khi đó, nếu vào một trang mạng tìm kiếm nào đó và gõ “Lịch sử thế giới” hay “Lịch sử thế giới thế kỷ XX”, quý vị sẽ thấy hiện ra hàng chục tài liệu lịch sử, trong đó không có chỗ nào nhắc một lần đến Điện Biên Phủ; chỉ có Đức, Pháp, Nga, Mỹ,… với hai cuộc thế chiến, và một số sự kiện lớn khác. Và nếu quý vị đi nước ngoài và ra đường hay công viên chặn mọi người lại để hỏi thì chắc trong 1 vạn người may ra có 1 người biết Điện Biên Phủ là gì.)
“Sung sướng làm sao khi sáng mai thức dậy bỗng thấy mình là người Việt Nam.” Câu nói của một bà nào đó người Cuba (hình như nhà báo?) vào khoảng năm 1967 rõ ràng đã đẩy “niềm tự hào Việt Nam” lên tới trời. Từ ngày đó, người Việt ta không còn muốn để mắt đến một dân tộc nào khác nữa!
Sự nhẹ dạ của người dân được trang bị thêm lòng tự hào đó đã nhiều lần bị lợi dụng. Những nhân vật “làm chính trị”, với chiêu bài vừa tâng bốc, phỉnh nịnh quần chúng, vừa nói những lời mỹ miều về sự sẵn sàng hy sinh tất cả vì dân vì nước, vừa hứa hẹn về tương lai xán lạn, lại vừa tuyên truyền rằng đội ngũ lãnh đạo của cái dân tộc vĩ đại này xứng đáng là đỉnh cao trí tuệ của nhân loại, dễ dàng dắt đám quần chúng nông nổi đi theo. Thậm chí người ta còn bảo được quần chúng nhắm mắt lại trên đường đi để khỏi thấy còn có những lối đi khác, mà nhiều người vẫn tin và làm theo. Trong cuộc tranh giành đám quần chúng nhẹ dạ, nhóm người nào ma lanh hơn, xảo trá hơn sẽ thắng.
Trong những ngày này, sự nhẹ dạ vẫn đang tiếp tục bị lợi dụng. Hàng vạn người đã xuống đường biểu tình theo hai sự định hướng khác nhau. Đám người này thì nghe theo bọn côn đồ lạ hoắc, không biết chui từ lỗ nào lên, xúi họ xông vào tất cả các công ty nước ngoài, nhất là của Đài Loan, để đập phá. Đám khác lại theo sự định hướng “chính thống”, tham gia “phản biểu tình” để làm mất đi tinh thần chống bọn kẻ cướp Đại Hán, mà không biết rằng họ đang tự làm hỏng tương lai của chính mình.
Đáng buồn hơn nữa là sự nhẹ dạ của những nhà trí thức, kể cả những vị nổi tiếng. Một nhân vật có thế lực, mặc dù toàn thân đã “nhúng chàm”, từng gây ra bao tai họa cho những con người tử tế, từng làm thất thoát phần lớn ngân sách quốc gia, tức mồ hôi xương máu của bao nhiêu thế hệ, kể cả những thế hệ tương lai, chỉ cần nói được một hai câu trúng ý các nhân sỹ, bỗng được các vị này coi như bậc thánh nhân. Họ ca ngợi. Họ tung hô. Rồi dồn hết hy vọng vào một cuộc đổi dời long trời lở đất mà dường như nhân vật đó sắp tạo ra. (Nếu đúng lúc này mà nhân vật đó chết, có lẽ “lịch sử” sẽ quên đi mọi điều dơ dáy mà nhân vật đó đã từng làm, để truyền tụng với nhau rằng “ngài” đã “hiển thánh”!)
Ở một mức độ nào đó đúng là có thể giải thích được thái độ như vậy của kẻ sỹ. Khi trông chờ có một cuộc thay đổi thì điều quan trọng là nó có xảy ra được hay không. Người thực hiện nó là ai cũng được. Kẻ thực hiện dù có là kẻ xấu xa nhất thì việc thực hiện vẫn là tốt cho xã hội, vẫn nên được đón mừng. Đôi khi, vì quyền lợi chung, có thể cần “khích tướng” để một nhân vật có thế lực “nổi máu” lên và ra tay. Nhưng đó là trong trường hợp có thể hy vọng một cách có cơ sở vào khả năng thay đổi. Và dù có khích tướng thì cũng không nên ca tụng và đặt mọi niềm tin vào một nhân vật không xứng đáng.
Sự nhẹ dạ và nông cạn còn làm cho một số nhân vật có bằng cấp rất cao ngưỡng mộ và trông chờ cả vào những nhân vật ngoại bang. “Với toàn bộ tầm nhìn chiến lược toàn cầu của Putin cũng như của nước Nga, tôi nghĩ rằng họ cũng hoàn toàn có khả năng nhận biết giới hạn của nước Nga, can dự hay là hợp tác với Trung Quốc… Chuyện chấp nhận để Trung Quốc để thao túng ở Biển Đông rồi đe dọa Việt Nam, trước hết là một đồng minh chiến lược của nước Nga ở Đông Nam Á, chắc chắn Nga sẽ không thể chấp nhận”, – mới cách nay vài tuần, một vị có học vị đến tận tiến sỹ khoa học đã từng phát biểu như vậy. Những lời này rõ ràng thể hiện một nhận thức ấu trĩ, đánh giá quá cao tài năng của Putin và vị thế của nước Nga trên trường quốc tế, đồng thời cũng nhìn nhận quá sai lệch về vị thế của Việt Nam trong tư tưởng và tình cảm của Putin. Vị này đã nhầm lẫn những lời xã giao sau các cuộc hội đàm với suy nghĩ thật của một chính khách, mà trong trường hợp này là một kẻ cực kỳ giảo hoạt.
Một điều có vẻ cực kỳ phi lý và mâu thuẫn, nhưng hoàn toàn có thật, là sự nhẹ dạ và nông cạn của chính những nhân vật đã vươn đến đỉnh cao quyền lực bằng cả một quá trình lạm dụng sự nhẹ dạ của quần chúng. Vì chính họ cũng nhẹ dạ và nông cạn, họ đã say sưa với những lời đường mật về tình hữu nghị (mà đến giờ mới có vị nhận ra là “viển vông”) của những tên hàng xóm vừa xảo trá vừa hung hăng. Vì nhẹ dạ và nông cạn, họ đã hạ bút ký vào những văn bản trói buộc số phận của cả một dân tộc vào với một nước “anh em” với một tập đoàn cầm quyền đang từng ngày từng giờ gây ra những điều lo ngại và khó chịu cho cả thế giới.
Tất nhiên, trong việc ký kết những văn bản tai hại cho dân tộc, động lực chính là quyền lợi cá nhân và tập đoàn. Nhưng nếu không nông cạn và dốt nát thì những nhân vật có trách nhiệm phải hiểu được rằng những quyền lợi trước mắt đó không thể nào bảo đảm được tương lai lâu dài cho chính cá nhân họ, một khi dân tộc bị lệ thuộc vào một tập đoàn phản động ngoại bang. Số phận Lê Chiêu Thống và đoàn tòng vong sau khi bán nước đủ để làm tấm gương cho họ, nhưng họ đã không chịu soi. (Có lẽ họ vẫn hy vọng được làm quan ở bên Tàu như Trần Ích Tắc chăng?)
Trong mấy tuần qua, đã có biết bao nhiêu bài viết vạch trần những mưu đồ xấu xa của tập đoàn cầm quyền Trung Nam Hải. Tất cả những điều lên án đó đều đúng. Nhưng có một điều phải xấu hổ mà thừa nhận: trong quan hệ quốc tế, bọn người đó tuy đểu cáng, xỏ xiên, nhưng không hề nhẹ dạ.
Nguyễn Trần Sâm
T


18/6/14

 “Thoát Trung” là thoát cái gì và thoát như thế nào?


Việt Hoàng
“…Chính trị là làm việc cùng nhau để thay đổi xã hội và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Chính trị không có gì là xấu mà ngược lại nó là sự cống hiến và hy sinh cao đẹp. Sỡ dĩ chính trị xấu là do những người tốt lẩn tránh nó và nhường lại nó cho những kẻ xấu…”
Sau sự kiện Trung Quốc đem đặt giàn khoan HD-981 vào sâu trong lãnh hải Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã bước sang một giai đoạn mới. Dư luận và trí thức Việt Nam đang có cuộc vận động kêu gọi “thoát Trung”. Thoát Trung ở đây có thể hiểu là thoát khỏi quĩ đạo tiêu cực của Trung Quốc, cụ thể hơn nữa, đây là lời kêu gọi, là mong muốn chính quyền Việt Nam thoát ra khỏi ý thức hệ cộng sản anh em đồng chí với Trung Quốc, thoát khỏi vòng kim cô có tên gọi là “đại cục” với 4 tốt và 16 chữ vàng, thoát khỏi sự ảnh hưởng toàn diện của Trung Quốc lên mọi mặt đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến chủ quyền lãnh thổ…
Có lẽ người Việt Nam đã ý thức được những hiểm họa đến từ chính quyền Trung Quốc. Tuy nhiên ở đây chúng ta cần phân biệt giữa chính quyền Trung Quốc và người Trung Quốc (người Hoa), vì ba lý do:
1. Người Hoa khác với chính quyền Bắc Kinh cũng như chúng ta (người Việt Nam) khác với chính quyền Việt Nam hiện nay.
2. Bài Hoa là một hành động kỳ thị chủng tộc. Đây là thái độ phản đạo đức, trái với những giá trị tốt đẹp mà chúng ta đang mong muốn xây dựng.
3. Ngoài ra, còn có một lý do thực tiễn khác. Trong cuộc tranh đấu chống lại tham vọng của chính quyền Bắc Kinh chúng ta rất cần sự giúp đỡ của chính những người Trung Hoa. Có nhiều người Hoa có lương tâm sẽ giúp chúng ta giành lại chủ quyền và lãnh thổ.
Như vậy, thoát Trung không có nghĩa là bài Hoa. Ngoài ba lý do đã nêu ra, có một lý do rất quan trọng khác: Sau một ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ và sau nhiều thế kỷ người Hoa sống tại Việt Nam, thì không ít (nếu không nói là phần đông) người Việt Nam, ít hay nhiều, đều có "gốc gác" Trung Hoa. Việt Nam là một trong những dân tộc “giống” người Trung Hoa nhất. Ngay cả trong huyền sử thì nguồn gốc của chúng ta cũng bắt đầu từ vị vua Thần Nông bên Trung Quốc. Tất nhiên huyền sử chỉ có độ chính xác tương đối nhưng nó nói lên một sự kiện là chúng ta và người Trung Hoa có những gắn bó mật thiết, và nhiều người Hoa sống lâu trên đất nước Việt Nam tự xem mình là người Việt hơn là người Trung Hoa. Vì vậy "bài Hoa" là "bài" một thành phần lớn dân tộc và có thể đưa đến một cuộc nội chiến. Ngay trước mắt, nó tạo ra những tình cảm khó chịu giữa những người Việt Nam và đưa đến thái độ nghi kị, ngờ vực, phân biệt…
Sỡ dĩ chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của sự việc này vì nó liên quan đến “tư tưởng chính trị” của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Chúng tôi quan niệm “tinh thần quốc gia” không nhất thiết dựa trên huyết thống chủng tộc mà dựa trên tinh thần chia sẻ một tương lai chung: “Quốc gia như là một tình cảm, một không gian liên đới, một đồng thuận chung và chia sẻ một tương lai chung”. Như vậy một người Hoa, hay một người Chăm, hay bất cứ thuộc nguồn gốc nào, nếu cùng góp sức để xây dựng một tương lai Việt Nam chung thì đều là người Việt Nam. Những người này có giá trị gấp ngàn lần những người gốc Việt nhưng vì quyền lợi, sẵn sàng làm tay sai cho chính quyền Bắc Kinh.
Quay trở lại chủ đề “thoát Trung” mà trí thức Việt Nam đã và đang thảo luận trong thời gian qua chúng ta có thể thấy là dù sôi nổi nhưng vẫn chưa đi đến tận cùng của nguyên nhân, ngay cả buổi tọa đàm do một số trí thức tổ chức vào ngày 5/6/2014 tại 53 Nguyễn Du, Hà Nội. Tiến sĩ Giáp Văn Dương, diễn giả chính của chương trình cũng chỉ có thể đặt vấn đề trên lý thuyết là “làm sao?” (để thoát Trung) còn “làm như thế nào?” thì đó là việc của chính phủ. Như vậy nếu chính phủ không muốn “thoát Trung” thì sao? Câu hỏi này đã không có câu trả lời. (xin xem thêm bài “Thoát Trung” câu chuyện của những tổ chức chính trị chuyên nghiệp).
Trí thức Việt Nam ngày hôm nay cũng không khác gì mấy so với vị trí thức tiền bối Nguyễn Trường Tộ thời nhà Nguyễn trước đây, chỉ biết kiến nghị, đề đạt các yêu cầu của mình lên nhà nước. Nếu nhà nước không thực thi những chính sách đề nghị thì cũng đành… chịu. Không chỉ thụ động và bất lực mà trí thức Việt Nam còn nông nổi và hời hợt. Bài tham luận “Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát!” có tác dụng như là một gáo nước lạnh giúp tỉnh cơn mê cho những người muốn thoát Trung nhưng lại đặt hy vọng vào một người chỉ muốn “thuộc Trung” là Nguyễn Tấn Dũng. Ông Dũng làm thủ tướng 6 năm nay và trước đó là 8 năm trên cương vị phó thủ tướng, thử hỏi ông ta đã làm được gì cho đất nước? Việt Nam ra nông nỗi như ngày hôm nay là tại ai? Thật sự là ông Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng cũng không có quyền hành gì nhiều mà chỉ là bù nhìn (như nước Việt thời vua Lê - chúa Trịnh).
Cũng vì bất lực nên nhiều trí thức Việt Nam chỉ biết lấy ước mơ làm hiện thực. Thay vì có thái độ cương quyết thay đổi xã hội họ chỉ biết chờ đợi và cầu mong sự hồi tâm chuyển ý của giới lãnh đạo. Thậm chí có người còn kêu lên rằng, trí thức chúng tôi chỉ là một tầng lớp nhỏ và không có quyền lực gì nên chúng tôi không thể làm gì được! Họ đã quên (hoặc không biết) rằng vai trò và trách nhiệm của tầng lớp trí thức trong một xã hội văn minh đó là: Hướng Dẫn và Lãnh Đạo quần chúng. Trí thức Việt Nam dường như không biết và không muốn biết về vai trò và trách nhiệm của mình dù rằng chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của thông tin. Đây là một vấn đề lớn liên quan đến sự tồn vong của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ di sản lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc mà chúng ta vẫn chưa thoát ra được, đó chính là “Văn Hóa Khổng Giáo”. Vì vậy, theo chúng tôi, muốn thoát Trung, trước hết người Việt Nam phải thoát khỏi văn hóa Khổng Giáo (Khổng Giáo cũng một tên gọi khác của Nho Giáo).
Tác giả quyển “Tổ Quốc Ăn Năn” đã trình bày rất rõ về sự độc hại của văn hóa Khổng Giáo một cách thẳng thắn và không khoan nhượng. Trong cuốn sách này ông đã dành nhiều chương để nói về Khổng Tử và những lý thuyết của Khổng Giáo. Khổng Tử xuất thân là thầy cúng tế nên ông đã đề cao lễ nghĩa và ông đã không thoát ra được thời đại của mình khi xem vua, thiên tử là tối cao và trên hết (điều này cũng không có gì là lạ vì Khổng Tử đã sống cách đây hai ngàn năm). Các triều đại phong kiến Trung Hoa và cả Việt Nam đã thần thánh hóa ông ta là nhằm mục đích giữ vững ngai vàng của mình. Nực cười hơn là chính quyền Trung Quốc hiện nay cũng tôn thờ và muốn đề cao những luân lý của Khổng Tử ra khắp năm châu thông qua các Viện Khổng Tử do nhà nước tài trợ.
Văn hóa Khổng Giáo làm tha hóa người trí thức, nó không nhìn nhận sự suy nghĩ và các hành động độc lập của cá nhân như là một giá trị. Nó tiêu diệt mọi tự do của con người và của mỗi cá nhân. Không những thế nó coi chữ trung, tức là trung thành với nhà cầm quyền như là một giá trị cơ bản. Vua bảo thần chết mà thần không chết là mang tội bất trung. Văn hóa Khổng Giáo rất coi thường người phụ nữ, đề cao vai trò người đàn ông quá mức. Nó tôn thờ bạo lực nhưng bắt người dân phải cúi đầu trước cường quyền. Nó cũng là sự lệch lạc khi cỗ vũ cho lối sống luồn lách để tồn tại và quay lưng với bất công thay vì đề cao lối sống liên đới và có trách nhiệm. Trong lý luận của Khổng Giáo có những điều khiến giới trí thức ca ngợi như Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.. Tuy nhiên không chỉ có Khổng Giáo mà mọi văn hóa khác cũng đề cao những giá trị đó. Đây là những giá trị căn bản của con người chứ không phải là một giá trị độc quyền của Khổng Giáo.
Cũng chính văn hóa Khổng Giáo đã mang (và đón nhận) chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Chủ nghĩa cộng sản không hoàn toàn là một “chủ nghĩa ngoại lai” như nhiều người nghĩ, mà nó ở ngay trong văn hóa của người Việt Nam, bởi vì chủ nghĩa cộng sản và ý thức hệ Khổng Giáo mà người Việt tôn sùng trong hàng ngàn năm không có gì khác biệt về căn bản. Xét về bản chất thì cộng sản và Khổng Giáo chỉ là một, nếu nhìn kỹ hơn, cộng sản là chủ nghĩa hay nhất có thể có nếu chỉ muốn cải tiến Khổng Giáo. Như vậy không có gì ngạc nhiên khi đảng cộng sản đã được một hậu thuẫn rộng lớn, vững chắc và bền bĩ trong dân chúng. Chính nhờ hậu thuẫn này mà dù gặp khó khăn tới đâu hay bị thất bại nặng nề tới đâu họ vẫn gượng dậy được. Văn hoá và tâm lý có sức mạnh ghê gớm của chúng và chúng cũng rất khó thay đổi.
Thay đổi văn hóa là một điều cực kỳ khó khăn: cuộc đời của Chúa Giê-su đã chứng minh điều này.
Chúa Giê-su đã thay đổi cả thế giới nhưng ông không thay đổi được đất nước ông. Ông là nhà tư tưởng và cách mạng đi trước thời đại và dân tộc mình rất xa với những giá trị tiến bộ: Hòa giải và hòa hợp dân tộc, bao dung, bác ái, bất bạo động và nhất là phân biệt giữa tôn giáo và chính trị. Ông nhận ra rằng người Do Thái thất bại và mất nước là do sự thua kém về tư tưởng và văn hóa. La Mã đã hơn hẳn Do Thái và mọi nước khác vào thời đó, bởi vì xã hội của họ tự do hơn, dân chủ hơn, có đối thoại, và nhất là có phân biệt giữa tôn giáo và chính trị. Chúa Giê-Su nhìn thấy sự vô vọng nguy hiểm của các chủ trương giải phóng vũ trang. Ông cũng nhìn ra nguyên nhân chính khiến Do Thái không vươn lên được đó là: sự kỳ thị giai cấp, sự tôn thờ bạo lực, đầu óc bất dung và nhất là sự lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị giam hãm xã hội trong cái khung cứng nhắc của kinh thánh khiến xã hội không tiến hoá được…
Như vậy có thể tạm kết luận rằng, nguyên nhân chính khiến Việt Nam sắp rơi vào cảnh lầm than và mất nước là do chính văn hóa của chúng ta. Vì vậy việc làm đầu tiên để thoát Trung đó là phải “thoát Ta”. Phải thoát Ta thì mới có thể “thoát Cộng” rồi sau đó mới có thể “thoát Trung”. Đất nước Việt Nam đang trong “trạng thái không bình thường” vì vậy muốn chữa được căn bệnh không bình thường đó chúng ta phải áp dụng những “phương cách không bình thường”. Phương cách đó là mỗi người trong chúng ta phải thay đổi hoàn toàn nhận thức, cách sống là lối suy nghĩ của mình một trăm tám mươi độ. Cái gì trước đây mình xem là đúng, là hợp lý thì bây giờ hãy xem xét có phải thật là như vậy không hay phải cần thay đổi. Phải đoạn tuyệt với văn hóa Khổng Giáo, thay thế nó bằng chủ nghĩa tự do cá nhân. Xem tự do của mỗi đon vị cá nhân, mỗi con người là giá trị cao nhất. Phải đề cao những giá trị tiến bộ của thời đại như tự do, dân chủ, nhân quyền, bao dung, liên đới, trách nhiệm, đối thoại, hòa bình và hợp tác.
Chúng ta cần thay đổi tư duy tự giam hãm bản thân mình, tự cho mình chỉ là kẻ sĩ, là người phục vụ chế độ thay vào đó bằng sự xác quyết mình là tầng lớp có trách nhiệm hướng dẫn quần chúng và lãnh đạo đất nước. Trí thức Việt Nam cần chủ động tham gia và dấn thân mạnh mẽ hơn vào các hoạt động chính trị. Chính trị là làm việc cùng nhau để thay đổi xã hội và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Chính trị không có gì là xấu mà ngược lại nó là sự cống hiến và hy sinh cao đẹp. Sỡ dĩ chính trị xấu là do những người tốt lẩn tránh nó và nhường lại nó cho những kẻ xấu. Muốn Việt Nam thay đổi và vươn lên thì phải thay đổi về thể chế chính trị, từ một chế độ toàn trị sang một chế độ dân chủ.
Và đấu tranh chính trị luôn là đấu tranh giữa các tổ chức chính trị với nhau chứ không phải giữa các cá nhân. Các giải pháp chính trị luôn luôn và chỉ có thể xuất phát từ các tổ chức chính trị, các giải pháp cá nhân dù có hay đến mấy cũng chỉ là những giải pháp cá nhân và nó cũng chỉ để tham khảo.
Người viết xin được nhắc lại nếu chúng ta muốn có dân chủ thì trí thức Việt Nam cần tham gia và ủng hộ cho các tổ chức chính trị dân chủ đối lập, làm cho các tổ chức này mạnh lên để làm đối trọng và gây sức ép lên đảng cộng sản, buộc đảng cộng sản phải thay đổi và chấp nhận cuộc chơi dân chủ.
Trí thức Việt Nam phải nhập cuộc trước. Khi trí thức có tổ chức, có cương lĩnh chính trị và sự đồng thuận rõ ràng thì chỉ khi đó chúng ta mới có thể thuyết phục và động viên được quần chúng đứng lên ủng hộ một cuộc chuyển đổi hòa bình và thiết lập một chế độ dân chủ mới…
Chúng ta không còn cách nào khác.

Vì sao người ta phải thoát Khổng?


Mai Huy Bích

Giá trị của gia đình trong Khổng giáo

"Mai Huy Bích, 1993. Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng. NXB Văn hóa."
Một quyển sách cũ. Đọc lại thấy hay quá. Trong hoàn cảnh đang nói về thoát Khổng, thoát Trung.
Ngày đó, cách đây đã hơn 20 năm, tác giả dùng từ "cộng đồng", không biết bây giờ tác giả có muốn thay bằng từ khác không?
Quyển sách gồm có 3 chương. Phần trích ở đây chỉ là 1 phần nhỏ. Còn nhiều ý hay ho nữa. Phần trích này bàn về thời VN truyền thống. Còn phần nói về thời xhcn cũng hay ho lắm. Khi nào có thời gian sẽ post tiếp.

Theo Khổng giáo, người và người không thể sống tách rời nhau mà có muôn nghìn quan hệ gắn bó lại với nhau trọng phạm vi những cộng đồng nhất định. Các cộng đồng cơ bản nhất, từ nhỏ đến lớn là gia đình (gia), nước (quốc), và thiên hạ. Như nhà nghiên cứu Quang Đạm đã vạch rõ, gia đình là chỗ đứng phải giữ vững trong mối quan hệ giữa người với người, trong quan hệ giữa mình với đất nước và thiên hạ. không bao giờ thoát ly gia đình – đó là một điểm rất cơ bản của Khồng giáo. Không vướng gia đình, không bị “vướng thê nhi”, “vợ bìu con ríu”, làm một cá nhân độc lập – đó không phải là một giá trị xã hội mà là một bất hạnh lớn lao. Theo Không giáo, đau khổ bậc nhất là những người không thuộc một cộng đồng gia đình nào, không có nhà để gắn mình vào. Đó là bốn loại người (Quan: đàn ông góa hoặc lớn tuổi không vợ; Quả: đàn bà góa hoặc lớn tuổi không chồng;: trẻ mồ côi; Độc: người già không con).
Tính chất cộng đồng thể hiện ở địa vị thống trị của gia đình đối với mỗi thành viên. Cá nhân không tồn tại như một thực thể độc lập, không có quyền tự do cá nhân, mà mọi mặt cuộc sống đều gắn chặt vào gia đình, phải hoàn toàn phục tùng gia đình. Người ta chống lại, kìm hãm những mong muốn riêng tư, coi mục tiêu sống của mỗi người là duy trì sự tồn tại, êm ấm, hài hòa của gia đình, chủ trương hòa tan tất cả những gì của riêng, cá nhân vào gia đình. Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá hành vi mỗi thành viên là có đúng và tốt cho gia đình hay không, có được mọi người trong gia đình tán thành hay không.
Nét khác biệt giữa gia đình Việt Nam và Á Đông nói chung với gia đình phương Tây là ở chỗ này: nếu như gia đình phương Tây tồn tại để nâng đỡ cá nhân, tạo ra môi trường thích hợp để nuôi dạy cá nhân. Khi cá nhân trưởng thành, gia nhập đời sống xã hội thì gia đình đạt được mục tiêu của nó. Trong khi đó, ở Việt Nam, mỗi người sống để tiếp nối, duy trì, phục vụ gia đình. Chính đặc trưng này – về cơ cấu gia đình – mà theo chúng tôi là nổi bật nhất của gia đình Việt Nam, chứ không phải một số tiêu chí khác, chẳng hạn tiêu chí gia đình hạt nhân, hay mở rộng mà nhiều nhà nghiên cứu vẫn vạch ra. – đã quy định đặc thù của những chức năng cơ bản mà gia đình Việt Nam đảm nhận. Hơn bốn thập niên biến thiên vừa qua, một mặt đã tạo nên những thay đổi lớn lao và mạnh mẽ, ví dụ những nội dung trực tiếp của giáo lý đạo Khổng (hiếu, đễ, v.v…) không còn như cũ nữa, nhưng mặt khác, nhiều yếu tố của cấu trúc cũ vẫn còn lại, đan xen với các yếu tố mới (chẳng hạn tính cộng đồng vẫn còn, thậm chí được tái cấu trúc), tạo nên đặc thù về cơ cấu và từ đó quy định chức năng gia đình Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng hiện nay.

Chức năng xã hội hóa của gia đình

Ở Việt Nam con cái được hình dung chủ yếu để bảo đảm sự tiếp nối gia đình, dòng dõi, kể cả đảm bảo bảo vệ và sự sống còn của những thành viên người lớn, và người già trong gia đình. do đó khác biệt đầu tiên giữa gia đình Việt Nam với gia đình phương Tây trong chức năng xã hội hóa là quan hệ giữa chủ thể và khách thể xã hội hóa, tức là giữa cha mẹ và con cái. ở phương Tây, tiêu biểu là Mỹ, nơi cơ cấu giá đình điển hình là hạt nhân, quan hệ cha mẹ - con cái phổ biến là quan hệ một đối một bền vững, chủ yếu chỉ có mẹ/ cha với con cái. Hơn thế, xã hội Mỹ đặt ra những chế tài văn hóa nghiêm khắc chống lại việc một nhóm đông người chăm sóc trẻ em. Trong khi đó, ở Việt Nam, một đứa trẻ ra đời trong gia đình có cơ cấu hoặc mở rộng, hoặc mang hình thái gốc (ông bà sống gần con cháu) không chỉ thuộc về người mẹ trong xã hội Mỹ. trẻ em Việt Nam thuộc về cả gia đình đông người đó, tiếp thu sự xã hội hóa nhiều người, của một tập thể. Do đó, con cái ngoan nhờ công cao của cả gia đình, con cái hư là do lỗi của chung, không của riêng ai.
Điều trước tiên cần vạch rõ là cộng đồng gia đình Việt Nam được tổ chức rất chặt chẽ. Các thành viên được dạy phải đặt lợi ích của gia đình ở địa vị tối cao, quyền lợi mỗi người không được trái với lợi ích gia đình, mà phải phục tùng gia đình. muốn vậy, người ta không dạy trẻ em tính tự lập, khả năng phân biệt đúng – sai, những điều cần thiết nhằm phát triển nhân cách độc lập, tự chủ - mà dạy cách nhận thức những gì được cộng đồng tán thành hoặc không tán thành, thừa nhận hay bác bỏ.
Con người phải kìm nén, dập tắt những ý muốn, nguyện vọng riêng tư nếu nó trái với chuẩn mực cộng đồng đã quy định. Nếu không sẽ bị “kẻ chê, người cười”, bị mất “thể diện”. khi so sánh khác biệt giữa văn hóa Nhật bản và văn hóa phương Tây, Ruth Benedict đối lập nền “văn hóa xấu hổ” của Nhật vốn lấy động cơ là sự xấu hổ, sợ xã hội chê bai với “văn hóa của tội lỗi” ở phương Tây vốn dựa vào ý thức cá nhân, nhận thấy mình tội lỗi trước Chúa, lương tâm cắn rứt, do đó xưng tội cho nhẹ người. Nguyên nhân của sự khác biệt đó là: một bên là những xã hội vẫn khẳng định tính cộng đồng Nhật bản và Việt Nam. Còn một bên là xã hội đã giải phóng cá nhân. Ở Việt Nam, người ta đề cao cộng đồng và hạ thấp cá nhân đến mức phi lý. Người ta thủ tiêu cá tính, cào bằng hết thảy cố sao mỗi người như mọi người, không hơn, không kém. Mọi người được rèn luyện từ nhỏ theo tinh thần cộng đồng, coi sự đánh giá của cộng đồng là thước đo cao nhất, và chỉ ứng xử cốt sao được cộng đồng tán thành, chứ không phải theo đúng, sai. Trong hai mươi bốn người con hiếu vẫn được truyền tụng (thập nhị tứ hiếu), người ta ca ngợi cả “ngu hiếu”, tức là hiếu một cách mù quáng, quái gở). Ý kiến của người xung quanh hết sức quan trọng. Trong nhà, con cái được đánh giá trước hết ở chỗ có ngoan- theo nghĩa có vâng lời người trên – hay không, chứ hoàn toàn không chấp nhận những trẻ em dám “lý sự”. với tinh thần ấy, kỷ luật dựa trên cơ sở những điều mà người xung quanh, đặc biệt những những “người quan trọng” tán thành hoặc coi là thích hợp. Con trẻ được dạy để hiểu rằng phải ứng sử sao cho những người xung quanh nói rằng cha mẹ hạnh phúc có đứa con như vậy. Đừng làm gì để bản thân bị “mất mặt” cũng như gây tổn hại đến thanh danh chung của cả gia đình, dòng họ. Con đường sống trên đời là nhượng bộ quyền uy người trên, và ý kiến những người có thế lực, có ảnh hưởng ở hàng xóm. Và tuân thủ mô hình hành vi của những người xung quanh. Lối giáo dục đó khiến trẻ em không biết tự định hướng, và khả năng phân biệt đúng sai rất kém. Chỉ biết dựa theo gia đình và số đông. Chính vì thế bố mẹ có thể dạy bảo con làm việc trái đạo đức, thậm chí phi pháp. Nếu con cái không nghe theo thì dứt khoát là “con không nghe cha mẹ trăm đường con hư”, dù có đúng lẽ phải vẫn là hư.
Một nội dung xã hội hóa hết sức quan trọng trong gia đình Việt Nam truyền thống, bất kể gia đình quan lại, nhà nho, hay nông dân, là phải quán riệt cho trẻ em thấm nhuần cơ cấu có tôn ti trật tự trên dưới theo chiều dọc và tinh thần cộng đồng chặt chẽ của gia đình. Mỗi người trong gia đình bao giờ cũng có vị trí nhất định trong 3 thứ bậc trật tự trên dưới như sau: 1- thế hệ; 2- lứa tuổi; 3- giới tính. Như vậy tôn ti của gia đình đè nặng lên 2 loại người: những người thuộc lứa tuổi trẻ hơn và thế hệ bé hơn; và những người phụ nữ. Trẻ em được dạy dỗ là phải thấm nhuần rằng họ chỉ là một thành viên của gia đình, họ hàng. Giá trị của mỗi người được tính theo tiêu chuẩn là con ai, cháu ai, dòng họ nào, chứ không phải theo tư cách cá nhận, bản thân họ là gì, tài đức họ thế nào. Hơn thế, ngay cả những người thành đạt, thì trong gia tộc vẫn chỉ là một thành viên bình thường, có kẻ trên, người dưới, và phải tuân thủ những quy tắc ứng xử theo vị trí của mình trong gia tộc. đó không phải là gì khác hơn là sản phẩm của một xã hội đặt cộng đồng lên trên cá nhân. Đây cũng là nét khác biệt giữa xã hội Việt Nam với nhiều xã hội Đông Nam Á. Ví dụ Thái lan, Một mặt Thái Lan người ta tôn trọng vị trí con người trong xã hội. mặt khác họ công nhận phẩm giá mỗi người, bất kể địa vị của họ ra sao.

Trẻ con được giáo dục theo Khổng giáo, tuân theo “hiếu” “lễ”

Đi liền với cách giáo dục theo khuôn mẫu Khổng giáo là hệ thống kiểm soát xã hội. Những biện pháp khen thưởng, trừng phạt, gây sức ép nhằm đảm bảo sự tuân thủ những chuẩn mực đã được thừa nhận và tránh vi phạm, lệch lạc. Những biện pháp kiểm soát xã hội trong gia đình truyền thống Việt Nam là nhằm phát huy cao nhất tinh thần tuân thủ thụ động. Hòa tan cá nhân trong cộng đồng. và trong hệ thống xã hội hóa theo tinh thần cộng đồng, cơ chế kiểm soát xã hội chủ đạo là bắt chước, và thưởng phạt. Khác hẳn với hệ thống xã hội hóa theo tinh thần cá nhân. Nơi chủ yếu là cơ chế tự điều chỉnh. Khác biệt cụ thể là ở chỗ. Trong cơ chế đầu, sự kiểm soát được thực hiện từ bên ngoài. Phải có một lực lượng chuyên thực hiện sự kiểm soát. Và điều buộc người ta tuân thủ là sợ bị trừng phạt. Còn trong cơ chế thứ hai, mỗi người biết tự mình phân biệt đúng sai, áp dụng những quy chuẩn hành vi để tự xem xét hành vi của mình. Tự thực hiện sự kiểm soát bên trong. Mong mọi người thừa nhận mình.
Trong cơ chế kiểm soát mang đậm tính cộng đồng như vậy, sự trừng phạt thường rất nặng nề. Bản thân gia đình rất chú trọng sự trừng phạt nghiêm khắc đối với mọi hành vi của con em mà gia đình coi là trái với lợi ích gia đình. Trừng phạt nghiêm khắc là đặc điểm nổi bật của cơ chế kiểm soát hành vi con cái trong gia đình Việt Nam so với một số xã hội láng giền, chẳng hạn Lào, và Thái Lan. Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đều xác nhận điểm này. Ví dụ trong gia đình Lào, trẻ em không biết đến những chuẩn mực và quy tắc nghiệt ngã như gia đình Trung Quốc và Việt Nam.
Cần vạch rõ: xã hội, thông qua luật pháp, coi việc vi pham uy quyền gia đình là đ dọa trực tiếp trật tự xã hội, nên tiếp tay rất đắc lực cho sự kiểm soát hành vi các thành viên trong gia đình.
Để tăng cường sự kiểm soát của gia đình đối với hành vi của các thành viên, để xiết chặt thêm mỗi thành viên vào cuộc sống cộng đồng, gia đình, pháp luật cũ quy định tư cách pháp nhân của gia tộc, coi gia tộc - chứ không phải mỗi cá nhân – như một đơn vị xã hội. với đường lối “liên đới trách nhiệm”, luật pháp của các chế độ cũ chỉ nắm lấy cộng đồng gia tộc chứ không phải từng người, buộc mỗi thành viên trong gia tộc phải theo dõi hành vi của nhau, chịu trách nhiệm lẫn nhau trước pháp luật. tạo thành một hệ thống kiểm soát xã hội “trăm tay nghìn mắt”. Không những đạt hiệu quả kiểm soát cao mà còn kìm trói, không bao giờ cho phép mỗi người có tư cách pháp nhân độc lập, trở thành những cá nhân. Như vậy, trong xã hội Việt Nam truyền thống, quan hệ kinh tế trong nội bộ họ hoàng có thể yếu ớt, không đáng kể, nhưng quan hệ pháp lý lại hết sức chặt chẽ.
Lối giáo dục nhấn mạnh tuyệt đối các chuẩn mực nhóm và tư cách thành viên nhóm không chấp nhận việc nuôi dưỡng cái “tôi” lấy mình làm trung tâm với tư cách là yếu tố then chốt trong xây dựng nhân cách sẽ đem lại kết quả gì? Không thể phủ nhận được rằng nếu mỗi thành viên trong gia đình không có nhiều nhu cầu. Không có khát vọng riêng trái với lợi ích cộng đồng hoặc biết kìm nén cái riêng thì không khí gia đình như thế thật vô cùng thân thương, và đầm ấm. Gia đình bảo đảm thỏa mãn mọi nhu cầu của mỗi thành viên. Nhưng mặt khác, nếu đạo lý, lễ nghi khắt khe đến mức bóp nghẹt sự sống của con người, thì không khí ấy cũng cực kỳ khắc nghiệt. Hơn thế nữa, với lối xã hội hóa như thế, nhiều trường hợp ra ngoài xã hội, thiếu sự kiểm soát của gia đình, nhiều khi chỉ sự tán thành của một nhóm bạn bè, một hội cùng tuổi, cũng dễ làm trẻ em hư hỏng. Không chỉ khi còn nhỏ mà cả lúc đã rưởng thành, những người được rèn luyện phải sống theo số đông, theo cộng đồng như thế đều không có tính độc lập, tự chủ trong suy xét, phán đoán, chỉ biết rập khuôn nghe theo số đông. Không biết độc lập suy nghĩ, không có và không dám bảo vệ ý kiến trái với số đông. Họ “gặp việc ác không dám phản đối, gặp điều hay mà trái ý kiến nhiều người thì không dám theo, cho nên chỉ thích an thường thủ phận mà tiến thủ” (câu của Đào Duy Anh, 1939. Khổng giáo phê bình tiểu luận. Huế. Quan hải tùng thư). Những con người chỉ biết vâng lời theo số đông, “ai sao tôi vậy” như thế không phải giàu tinh thần đoàn kết, tinh thần tập thể mà chính là con đẻ,là sản phẩm của lối xã hội hóa đặt cộng đồng lên trên hết thảy, bóp nghẹt tính độc lập, tự chủ từ trong ý nghĩ trở đi. Và lý tưởng của loại gia đình như thế không phải là sự biến đổi phát triển mà là hòa thuận, ổn định đến mức trì trệ, bảo thủ.





16/6/14

 Có cần phải thông cảm cho ông Phạm  Văn Đồng?


Phạm Quang Tuấn
(Theo Dân luận)
Là một người quan tâm tới vấn đề Biển Đông và đã từng lên tiếng trên báo chí ngoại quốc để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, tôi kinh ngạc khi đọc bài biện hộ cho công hàm Phạm Văn Đồng của GS Cao Huy Thuần. (Phổ biến tại trang Tạp Chí Thời Đại).
Kinh ngạc không phải vì những lời biện hộ trong bài. Những lý lẽ tương tự đã từng được đưa ra rất nhiều bởi những báo trong nước và những dư luận viên trên mạng. Nhưng kinh ngạc vì chúng xuất phát từ một vị giáo sư của một đại học Pháp.
Xin miễn bàn về khía cạnh pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng hay làm cách nào để hóa giải nó, vì đây là những vấn đề vô cùng rắc rối và nhức nhối, cần thảo luận chi tiết ở nơi khác. Tôi chỉ xin bàn về những lý lẽ GS Cao Huy Thuần dùng để giải thích và biện hộ cho động cơ hay ý định đằng sau công hàm này, nói trắng ra là để kêu gọi sự thông cảm cho Phạm Văn Đồng.

Về những lý lẽ bào chữa cho công hàm Phạm Văn Đồng

Ông Cao Huy Thuần viết: "Phải phân biệt cho rõ hai vấn đề mà Trung Quốc muốn cột vào với nhau nhưng bối cảnh của năm 1958 về luật biển buộc phải tách riêng ra: vấn đề hải phận và vấn đề chủ quyền. Vấn đề hải phận là pháp lý. Vấn đề chủ quyền là chính trị. Tranh chấp không giải quyết được tại Hội nghị Genève 1958 là tranh chấp trên vấn đề hải phận. Bác bỏ hay tán thành tuyên bố của Trung Quốc là bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý ấy, một chuyện pháp lý nóng bỏng vào thời buổi ấy. Không phải vì bác bỏ hay tán thành cái chuyện 12 hải lý là bắt buộc phải bao hàm việc bác bỏ hay tán thành cái chuyện chủ quyền -- chuyện này ở bên lề, hạ hồi phân giải." Thật là một kiểu "diễn nghĩa" kỳ quái! Nếu Trung Quốc muốn cột hai vấn đề 12 hải lý và TS-HS vào với nhau thì trách nhiệm của chính phủ Việt Nam là phải tách hai cái ra chứ tại sao lại lờ đi? Công hàm PVĐ viết"tán thành tuyên bố [của Trung Quốc]" chứ đâu có viết là "tán thành phần tuyên bố của Trung Quốc về 12 hải lý, nhưng không tán thành phần tuyên bố của Trung Quốc về Hoàng sa-Trường sa"? Thậm chí công hàm cũng chẳng nói gì về hội nghị Genève 1958. Làm sao mà một tòa án quốc tế có thể đem câu "nhưng không tán thành phần tuyên bố của Trung Quốc về Hoàng sa-Trường sa" vào công hàm này? Một nguyên thủ hay thủ tướng phải biết câu "bút sa gà chết" và cũng phải có một chút cẩn thận tối thiểu chứ? Diễn giải một câu viết tùy theo bối cảnh thời sự, lịch sử, văn hóa xã hội v.v. là cách diễn giải thích hợp cho một tác phẩm văn chương cổ như truyện Kiều, nhưng hoàn toàn không thích hợp cho một công hàm của một vị thủ tướng ở thế kỷ 20.
Ông Cao Huy Thuần biện hộ rằng vì Liên Xô đã tán đồng tuyên bố của Trung Quốc, nên việc Phạm Văn Đồng cũng tán đồng điều đó có thể hiểu được trong tình hình thế giới năm 1958. Cao Huy Thuần đưa ra bằng cớ rằng câu chữ, cách viết của công hàm Phạm Văn Đồng hầu như y hệt với công hàm của Liên Xô: "Hãy so sánh ngữ văn này của Liên Xô với “công hàm Phạm Văn Đồng”: chữ nào chữ nấy gần như bản chính với bản sao. Đây là một điểm quan trọng góp phần vào việc giải thích bản văn của Hà Nội."
Lối bênh vực đó thật kỳ quái. Khi một người hay một đảng chính trị đã ở vị trí lãnh đạo một nước, và nhất là khi người hay đảng đó đã tự chiếm cho mình độc quyền lãnh đạo nước đó, không cho ai khác được tranh dành, thì không thể biện hộ rằng chỉ vì máy móc theo gương mẫu, tập quán XHCN, gương mẫu, tập quán quốc tế hay bất cứ gương mẫu gì khác "như một bản sao", mà vô ý nhượng bộ lãnh thổ cho ngoại bang. Thủ tướng một nước đâu có phải là một cậu học trò lười biếng sao chép bài của thầy, bạn?
Phạm Văn Đồng, và tập thể lãnh đạo VNDCCH thời 1958, có phải là những Bambi (nai tơ) ngây thơ vô tội, nhìn đời qua cặp mắt kiếng mầu hồng, nên bị lừa dối bởi những ảo tưởng không thực tế? Hay ông và những người đồng đảng, kể cả lãnh đạo Hồ Chí Minh, là những nhà chính trị lão luyện, đã từng trải qua nhiều chục năm tranh đấu gay go, vào sinh ra tử, đã từng không ngần ngại bắt bớ, thủ tiêu những chính trị gia đồng bào không đồng ý kiến?
Khi Phạm Văn Đồng rập khuôn công hàm của Liên Xô, ông có nghĩ tới sự khác biệt quan trọng: Liên Xô không có tranh chấp với Trung Quốc về những đảo trong tuyên bố của Trung Quốc, còn Việt Nam thì có? Khi Phạm Văn Đồng "ghi nhận và tán thành bản tuyên bố" của Trung Cộng, thì ông có thêm dòng chữ "trừ điều khoản về Tây sa (Hoàng sa) và Nam sa (Trường sa)"? Không, ông chỉ "ghi nhận và tán thành" "như một bản sao"! Khó có thể tưởng tượng người nào - dù là một người bình thường hay một thẩm phán Tòa án Quốc tế - chấp nhận việc một thủ tướng lại nhắm mắt sao chép như vậy về một vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ nước mình!
Ông Cao Huy Thuần viết: "Cho đến bây giờ, độc giả Việt Nam chỉ thấy thư của Phạm Văn Đồng đáp lại tuyên bố của Chu Ân Lai mà chẳng thấy tuyên bố của Trung Quốc là thế nào, tuy rằng đó là cái chìa khóa để mở cánh cửa đầu tiên". Có vẻ như ông ám chỉ rằng công chúng Việt nam chỉ trích công hàm Phạm Văn Đồng chỉ vì họ chưa đọc bản tuyên bố của Tàu. Không hiểu Cao Huy Thuần căn cứ vào đâu mà viết vậy. Thực ra, những người quan tâm về hậu quả công hàm Phạm Văn Đồng nhiều nhất chính là những người đã đọc tuyên bố của Tàu. Khi tôi trao đổi trên facebook, có nhiều người còn bào chữa cho công hàm, nhưng khi tôi cho họ coi nguyên văn bản tuyên bố của Tàu thì tất cả đều lặng người vì đau đớn.
Càng đọc tuyên bố của Trung Quốc càng thấy rõ ràng sự nguy hại của công hàm Phạm Văn Đồng, vì tuyên bố đó nói rõ ràng là hải phận 12 hải lý "áp dụng cho Tây Sa (Hoàng Sa), Nam sa (Trường sa)". Mà nào có ai ép Phạm Văn Đồng phải "ghi nhận và tán thành" cái tuyên bố đó đâu? Ông chỉ cần viết rằng Việt Nam sẽ tôn trọng hải phận 12 hải lý quanh các bờ biển thuộc về Trung Quốc là đủ chứng tỏ sự đoàn kết và ủng hộ với nước Tàu rồi, tại sao phải viết thêm câu "ghi nhận và tán thành"đó?
Ông Cao Huy Thuần viết: "Một chính quyền [của thủ tướng Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hữu] chưa hoàn toàn độc lập đối với Pháp mà còn cương quyết [bảo vệ chủ quyền Hoàng sa-Trường sa] như thế, lẽ nào, thực lòng, một chính quyền đã hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, chủ quyền như chính quyền Phạm Văn Đồng, lại có thể từ khước chủ quyền một cách dễ dàng như vậy trong một bức thư?". Lý luận như vậy là lý luận ngược, đặt cái cày trước con trâu. Chúng ta không thể đặt mệnh đề "chính quyền Phạm Văn Đồng đã hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, chủ quyền" làm tiền đề, vì đó chỉ là niềm tin của tác giả chứ không phải là một sự thật khách quan.
Sự thật khách quan là ông Phạm Văn Đồng đã "ghi nhận và tán thành" một bản tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng sa-Trường sa. Sự thật khách quan là chính quyền Phạm Văn Đồng đã hy sinh rất nhiều xương máu của dân Việt Nam, nhưng chưa chắc là hành động hy sinh xương máu đồng bào đó đã là với mục đích bảo vệ độc lập, chủ quyền. Và dù chính quyền Phạm Văn Đồng thực sự có mục đích bảo vệ độc lập, chủ quyền, thì cũng chưa chắc là họ đã không có một mục đích khác họ coi là cao cả hơn, chẳng hạn như mục đích thế giới đại đồng dưới chủ nghĩa cộng sản và sự lãnh đạo của Liên Xô và Trung Quốc, mà họ đã nhắc đi nhắc lại cả ngàn lần. Và cũng đừng quên là công hàm không phải là hành động duy nhất, mà còn đi đôi với nhiều hành động khác, đã bị Tàu đem ra làm bằng chứng cho sự từ khước chủ quyền.
Lại càng thông thể chấp nhận tiền đề, dù chỉ hiểu ngầm, rằng thủ tướng QG Việt Nam Trần Văn Hữu không yêu nước, không quan tâm chủ quyền các đảo bằng thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng, để từ đó suy ra rằng Trần Văn Hữu bảo vệ chủ quyền nên Phạm Văn Đồng, người không thể thua kém Trần Văn Hữu, không thể từ bỏ chủ quyền. Đó là lý luận ngược, từ thành kiến chính trị mà suy ra sự việc: đáng lẽ dùng hành động của hai người (Trần Văn Hữu và Phạm Văn Đồng) để đánh giá và so sánh họ, thì lại khởi sự từ sự đánh giá có sẵn trong đầu để giải thích hành động. Kiểu "lý luận" đó cũng như của một kẻ đang yêu mù quáng và tôn thờ người yêu nên thấy nàng làm gì cũng bào chữa, khen ngợi, dù là chuyện xấu xa. Đáng lẽ Cao Huy Thuần phải hỏi: một người (Trần Văn Hữu) tuyên bố chủ quyền Hoàng sa-Trường sa của Việt Nam trước quốc tế, một người (Phạm Văn Đồng) không những phớt lờ khi kẻ tranh dành chủ quyền công khai tuyên bố rõ ràng chữ Hoàng sa-Trường sa, mà còn "ghi nhận và tán thành", thì ai quan tâm tới chủ quyền hơn ai?

Vấn đề cơ bản của công hàm Phạm Văn Đồng

Ông Cao Huy Thuần, cũng như nhiều người khác, cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng không có tính cách pháp lý, không phải là một hiệp định phân định biên giới hay nhường đảo, và do đó không đáng sợ. Nhưng cái tai hại của nó không ở chỗ đó. Nó nguy hiểm ở chỗ là nó có thể được coi là chứng cớ rằng từ trước đó, chính quyền VNDCCH vẫn công nhận Hoàng sa-Trường sa đương nhiên là thuộc về Trung Quốc. Tức là, nó không chứng tỏ rằng Việt Nam đã "nhường chủ quyền" cho Trung Quốc, nhưng nó chứng tỏ rằng VNDCCH công nhận rằng chủ quyền từ xưa vẫn thuộc về Trung Quốc một cách đương nhiên, "không thể chối cãi", và Việt Nam chẳng có gì để mà nhường. Nó không phải là tờ giấy cho con mình làm con nuôi người khác, mà là giấy chứng nhận rằng đứa trẻ không hề là con mình. Cách hiểu này càng khó bác bỏ khi đi đôi với những hành động khác (bản đồ, sách giáo khoa, sự im lặng về trận hải chiến Hoàng sa và về vấn đề chủ quyền các đảo nói chung).
Giữa hai cách hiểu công hàm Phạm Văn Đồng: "vô ý rập khuôn Liên xô nên đánh rớt chủ quyền" "đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc từ trước", chỉ có thể chọn cách thứ nhất nếu người viết và ký là một em bé thơ ngây chứ không phải là một nhà chính trị lão luyện, đứng đầu một chính phủ. Nhưng cũng có thể là khi giao dịch với đàn anh phương Bắc thì các lãnh đạo VNDCCH trở thành ngây thơ như em bé? Khả năng đó không thể hoàn toàn loại bỏ, vì đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ VNDCCH chịu ơn người anh cả Trung Quốc quá, quá nặng.
Tóm lại, những lý lẽ ông Cao Huy Thuần đưa ra để bào chữa cho Phạm Văn Đồng không đóng góp được gì cho cuộc tranh đấu vô cùng gay go để tháo gỡ hậu quả tai hại của công hàm này. Công hàm Phạm Văn Đồng không phải là bản án tử hình, nhưng ít ra nó cũng là một lưỡi gươm Damocles đủ sắc bén để chặt cụt cánh tay pháp lý của Việt Nam, khiến nước này sẽ không bao giờ dám ra tòa để đòi phân xử chủ quyền Hoàng sa-Trường sa dù là chính quyền muốn làm vậy (mà việc này thì chưa chắc, vì còn 16 chữ vàng gì đó). Công hàm PVĐ đã khiến khả năng thua kiện trở thành đáng để ý (non-negligible), mà nếu thua là mất tất cả, kể cả những đảo Trường sa còn đang chiếm hữu, còn nếu thắng thì Tàu hầu như chắc chắn cũng không giao trả đảo nào. Người khôn ngoan không bao giờ đi vào một vụ kiện như vậy (hy vọng là chính phủ hiện thời khôn ngoan hơn chính phủ Phạm Văn Đồng).
Cuộc tranh đấu chủ quyền do đó sẽ chỉ diễn ra trên các mặt trận học thuật, công luận, ngoại giao, chính trị quốc tế. Tiếc thay, trên những mặt trận đó thì công hàm Phạm Văn Đồng lại càng nguy hại hơn là trong địa hạt pháp lý! Rốt cuộc, những lý lẽ của GS Cao Huy Thuần có lẽ chỉ để "lưu hành nội bộ", may ra an ủi được những người "phò đảng tới cùng" (hay theo tiếng Anh là chúng chỉ dùng vào mục tiêu "preaching to the converted").
Phạm Quang Tuấn




15/6/14

Thư của Gs Hoàng Xuân Hãn gởi Tướng Giáp
(Theo Quechoa)

Sau đây là bc thư cui cùng ca Giáo sư Hoàng Xuân Hãn gi Võ Nguyên Giáp. Bc thư do chính Gs Hoàng Xuân Hãn mang tay đến Tòa Đi S Vit Nam ti Paris, nh chuyn. Trên đường v nhà,  ông đã trượt chân ngã; Vào nhà thương ít hôm sau thì mt. Là thư riêng nhưng ông gi gm nhiu s quan tâm đến vn nước và quan đim gi nước. Xét thy có nhiu ni dung vn còn tính thi s, nht là giai đon hin nay, khi Trung Quc đang gây hn bin Đông, chúng tôi đăng li toàn văn thư này đ bn đc tham kho và qua đó hiu thêm tâm s ca bc trí thc chân chính.


PARIS ngày m
ng 2 tháng Giêng năm Bính Tý
Gs Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)


Kính g
ởi anh VĂN
Th
ưa ANH

Đ
i vi ANH đã nhm trng-trách trong nước, nhng k đt li đến ANH, t dùng nhng tiếng xưng-hô cc long- trng. Vy tôi xin Anh th li đã gi li xưng kín-đáo thân- mt trong bui gian-nan đ cùng nhau mng năm mi và chúc Anh vn mnh-kho đ trường th và ch-giáo cho con em. Chúng ta là nhng k ti-nhc cho nước khi tr, mà may-mn hơn nhiu bn, còn sng đến ngày nay, nhn thy đt nước thng-nht đc-lp. Nhưng li s rng lp tr, hin nay là sinh-lc ca nước, s chóng quên ti nhc xưa và công lao nhng người như các Anh.

Tôi đã có lúc bi
n-lun v điu khác bit gia s thng ngoi-xâm và s gii-phóng đt nước. Nước ta ch có hai cuc gii-phóng mà thôi: thi 1416-1427 vi Lê Li cùng Nguyn Trãi, và thi 1945-1975 vi Bác H cùng các Anh. T nhiên c hai mt phi nh gn-bó gia mưu-lược lãnh-đo và kiên-cường nhân-dân. Khi ngoi-xâm thì nhân-dân ai cũng căm-tc và lo-s cho tương-lai; còn trong cuc gii-phóng thì đch đã chung vi nhân-dân lâu trong nước, ri có th dùng quyn-li đ chia r và gim tinh-thn nhân-dân. Vì vy, cái cn-thiết nht trong cuc gii-phóng là cái ĐC ca nhng người lãnh-đo, cái Đc đ cho đch không tìm cách mua-chuc mình và làm gương cho nhân-dân gi lòng yêu nước.

Chính ngày nay, đ
c-tính y rt cn đi vi nhng người cm trng-trách. Chc rng các Anh vân lưu-tâm v đim y. Nhưng nhân-dân ch quên công-lao nhng k kia. Điu th hai tôi s là s tư-li ngày nay làm gim thế-khí ca cán-b đi vi người ngoài, h mang tin vào; có k tưởng người mình vn "s" h như xưa, cho nên h tìm cách lung-lc. Ví d töi được nghe nói rng có công-ti ln ngoài đu-tư đã không mun, như ta tưởng, phái sang nước ta làm đi-din, nhng người gc Vit mà h có, vì nhiu duyên-c, nht là h s mt "oai" v người Vit.

N
ước ta nghèo ; mi đc-lp và thng-nht. Vy s bo-th đt-nước rt khó. Nước li có nhiu dân-tc thiu-s, tuy t-l nh, nhưng nhng vùng kinh-tế quan trng mé Bc và và mé Tây, và c ti trung-châu như Chàm và Khme khrom. Gương ngoi-bang xui-khiến hay giúp-rp không thiếu: Tchechene, Đông-Âu, Tây-Á. Phi-Châu. Tôi nghĩ rng phi tôn-trng và ng-dng văn-hoá đi-phương và coi đó là văn-hoá Vit-nam, đng-hoá chóng v trình-đ kiến-thc và trà-trn dân-tc trong lúc tuyn-chn cán-b. Nước Pháp đã gii-quyết được vn-đ Bretons, Auvergnats, Alsaciens, Basques v.v. mà vn-đ Irland Anh vn tn-ti. Vn-đ mt b và hi-phn thì nan-gii, nhưng phi đa vào chính-sách ngoi-giao đi vi mt ti-cung-quc láng-ging. Nhưng du thế nào thì mt tiu-hm-đi rt cn, ít ra thì cũng phi gi an-toàn khu du-lch vnh H-long. Đi vi Lào thì ch quên rng cui đi Thuc Pháp, Lào ch gm vùng Nam-Chưởng và Vn-tượng; s an-toàn đt Vit v mt Tây dã nh s y. Đi vi Khmer thì chc các Anh đã biết đó là l h ca nước ta đi Tây-Phương. Phi làm sao cho s tuyên-truyn ca h rng ta tiếp-tc chiếm ln h là mo chia r đ ln-áp đt chung.

V
mt kinh-tế, s m ca cho ngoi-quc đu-tư là mt s dĩ-nhiên đ dân mình có vic làm, hc kĩ-thut, hc qun-lí, kiến-thiết h-tng cơ-s, nâng dn đi sng, và nh đó báo-đáp ít nhiu công-lao lãnh-đo và nhân-dân. Nhưng các Anh cũng đng-ý vi tôi thà chu thit-thòi chút ít bây gi, ch không đ n ln lâu dài v sau cho con cháu, đến mc không bao gi tr hết lãi.

Cu
i cùng, tôi mun nói qua v vn-đ bom ht-nhân. Pháp va tuyên-b ngng th, Trung-quc vn thí-nghim và làm. Nước ta không th có; nhưng phi nghĩ đến lúc bt ng có đch-th ly nó đ đe-do mình thì làm sao? Đây không phi là mt gi-thuyết suông. Trung-quc hin nay còn đe-do Đài-loan nếu x ny tưởng da vào Hoa-kì mà t thái-đ li-khai. Nếu lc-đa ly bom ht-nhân ra đe-do, Hoa-kì có can-thip vào ni-tr nước khác không? Ngoi-giao ta t có lúc phi chn mt nước ln có bom ht-nhân mà Trung-quc s, đ tr-ngi ý-đ đe-do ca đch.

Trên đây ch
là my li tm-thường tôi xin góp làm vui câu chuyn đu năm vi ANH. Xin Anh đng cười là nhng li vô-trách-nhim. Nhân ngày tết, töi xin chúc tết ANH và c nước; và xin gi bài khai-bút năm nay đ biu-l lòng riêng. Rng:

Tám ch
c may ri sp chín mươi
S
c chng thêm đui tính thêm lui
S
nhà bn cũ ôn không thn
V
n nước tình sâu mng s tươi
Văn ng
thi xưa tìm kiếm gc
Tinh hoa thu
mi gng đua người
Tu
i cao nhưng chí còn trai tr
M
t đc tay biên ming vn cười.
(Trên đây tôi dùng năm v
n trong bài " Cm ơn mng th tám mươi " làm đã 9 năm ri:)

Tu
i-tác nay đà chn tám muơi
Đ
i ta ngm li lm khóc cười
Th
ương tâm bn bn binh đao thm
M
ng m nhiu phen hu vn tươi
B
t nước hư danh lòng chng bn
V
n nhà c gi chí không lui
Tri âm ch
ng l so già tr
Xin dãi lòng son c
m t Người

Kính chúc ANH và gia-quy
ến trong năm ny mi s may-mn tt-lành.

 HOÀNG-XUÂN-HãN